Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Làm chủ lực lượng sản xuất mới tạo lợi thế vượt trội

Hạnh Lê 28/06/2026 10:01

Khu vực kinh tế tư nhân được nhận định là không gian sinh thái đặc thù tối ưu để giải phóng tiềm năng của các lực lượng sản xuất mới.

Trong bối cảnh mới, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quốc gia nào nắm bắt nhanh và làm chủ lực lượng sản xuất mới sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh vượt trội trong chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh.

“Đất dụng võ” của lực lượng sản xuất mới

Sự bùng nổ của công nghệ số, AI, dữ liệu lớn và các công nghệ mới… đang tạo nên một thế hệ tư liệu sản xuất mới. Đó là tri thức, sáng tạo và dữ liệu góp phần tăng năng suất và giá trị mới. Tư liệu sản xuất này đang dần thay thế các yếu tố truyền thống như lao động, vốn và tài nguyên.

cong nghe
Công nghệ, dữ liệu được nhận diện là lực lượng sản xuất mới thay thế dần cho các yếu tố truyền thống như lao động, tài nguyên.

Trên thế giới, theo các chuyên gia nhận định, các nền kinh tế lớn đang cạnh tranh quyết liệt để làm chủ lực lượng sản xuất mới. Trung Quốc thúc đẩy chiến lược phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới gắn với hệ sinh thái công nghệ tư nhân; Nhật Bản triển khai mô hình xã hội 5.0; Hàn Quốc tập trung nguồn lực cho các tập đoàn công nghệ chiến lược…

Nhấn mạnh vai trò của lực lượng sản xuất mới, song PGS TS Phạm Thị Túy - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, khoa học công nghệ, tri thức dữ liệu tuy rất quan trọng nhưng không thể tự phát huy tác dụng nếu thiếu môi trường chuyển hóa. Kinh tế tư nhân chính là không gian sinh thái đặc thù tối ưu để các lực lượng sản xuất trên bộc lộ tiềm năng.

Sự tối ưu này, theo PGS TS Phạm Thị Túy chính từ đặc thù của kinh tế tư nhân với tính linh hoạt cao có thể chuyển hóa tri thức khoa học thành những xung lực kinh tế thông qua cơ chế thị trường. Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh lớn buộc các doanh nghiệp tư nhân phải liên tục đổi mới. Sự đổi mới này là vườn ươm lý tưởng cho các hoạt động thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới vào quá trình vận hành và phát triển.

Quan trọng nhất, kinh tế tư nhân giúp chuyển hóa những ý tưởng sáng tạo thành các mô hình kinh doanh có lợi nhuận, tạo ra giá trị thặng dư số. Đây là hình thái giá trị thặng dư mới dựa trên hiệu suất vượt trội của công nghệ thay vì sức lao động lao động truyền thống.

Từ các hình thái đó, lực lượng sản xuất mới đi vào vận hành, tạo áp lực tương tác mạnh mẽ trong doanh nghiệp tư nhân. Sự tương tác này không đơn thuần là thích ứng về công nghệ kỹ thuật mà đòi hỏi kinh tế tư nhân phải tái cấu trúc, tái định nghĩa để tồn tại và phát triển.

"Giải phóng" các nguồn lực phát triển

Việt Nam được đánh giá là bắt kịp nhanh với cuộc cách mạng công nghiệp mới. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa đã nhanh chóng thích ứng với AI, dữ liệu và tích hợp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. PGS TS Phạm Thị Túy nhìn nhận nội dung này trên 3 chiều cạnh.

Thứ nhất, công nghệ mới đang làm cho kinh tế tư nhân phải dịch chuyển từ tư duy sở hữu hữu hình sang tư duy vốn hóa vô hình với sở hữu dữ liệu, AI.

vien nghien cuu
Thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ, "làm giàu" các tư liệu sản xuất trong doanh nghiệp (ảnh minh hoạ)

Thứ hai, sự xuất hiện của của các kỳ lân công nghệ và doanh nghiệp xanh. Trong đó, các kỳ lân công nghệ đại diện ưu tú cho các phương thức sản xuất mới vận hành dựa trên nền tảng của hệ sinh thái số.

Song hành với công nghệ là xu hướng xanh hóa doanh nghiệp. Việc tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào lõi sản xuất chính là biểu hiện sinh động của mối quan hệ sản xuất hiện đại.

Thứ ba, mô hình quản trị doanh nghiệp thay đổi sâu sắc, từ quản lý hình tháp truyền thống với mệnh lệnh đi từ trên xuống dưới một cách cứng nhắc được thay bằng cấu trúc phẳng, trao quyền linh hoạt và cộng tác tức thời.

Theo PGS TS Phạm Thị Túy, những thay đổi sâu sắc trong cách thức sản xuất, tổ chức lao động, sở hữu tư liệu sản xuất, cấu trúc quản lý trong doanh nghiệp và nền kinh tế đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về cải cách thể chế. Cùng với đó, những thách thức giữa khoảng cách công nghệ và hạ tầng số; vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong việc tham gia, kiến tạo hạ tầng công nghệ mới. Bên cạnh đó là chất lượng nguồn nhân lực và rào cản thể chế; năng lực của không ít doanh nghiệp tư nhân, mức độ sẵn sàng tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu…

Theo các chuyên gia, nếu những áp lực ngày càng gia tăng trên chưa được giải toả cùng với các rào cản về tư duy quản lý và khung pháp lý thì vô hình chung sẽ trở thành lực cản. Do đó, sớm xây dựng một “thể chế kiến tạo đột phá”, cụ thể hoá quy định mới trong phát triển khoa học công nghệ, xây dựng hiệu quả liên kết giữa doanh nghiệp - cơ sở đào tạo… nhằm giải phóng các nguồn lực phát triển là yêu cầu cấp thiết.

Hạnh Lê