Phân tích - Bình luận

Phân tích - Bình luận

Vì sao đồng Yên Nhật về đáy 40 năm?

Nam Trần 01/07/2026 03:27

Đồng Yên Nhật rơi xuống mức thấp nhất kể từ năm 1986 dù Ngân hàng Trung ương nước này (BoJ) đã tăng lãi suất.

Ngày 30/6/2026, đồng Yên có lúc rơi xuống quanh 162 Yên đổi 1 USD, mức yếu nhất kể từ năm 1986. Trước đó tỷ giá USD/JPY đã tiến sát vùng 161,9, đưa đồng tiền Nhật vào khu vực mà thị trường thường gắn với rủi ro can thiệp ngoại hối.

yen.png
Đồng Yên đang suy yếu mạnh nhất kể từ năm 1986 bởi cả những lý do nội tại và ngoại biên (Ảnh minh họa)

Tính trong một tháng, Yên mất giá khoảng 1,4% so với USD; còn trong 12 tháng, mức suy yếu lên tới gần 13%. Không chỉ là một cú trượt ngắn hạn, xu hướng này đang kéo dài và phản ánh khoảng cách chính sách tiền tệ giữa hai nền kinh tế lớn của thế giới.

Diễn biến này xảy ra sau khi Nhật Bản đã có nhiều động thái lẽ ra phải nâng đỡ đồng tiền. Bộ Tài chính Nhật Bản liên tục cảnh báo về biến động tỷ giá và đã chi khoảng 11,7 nghìn tỷ Yên, tương đương hơn 70 tỷ USD, để mua vào đồng Yên trong giai đoạn cuối tháng 4 đến tháng 5/2026.

Bản thân BoJ cũng đã nâng lãi suất chính sách lên quanh 1% trong tháng 6, sau nhiều năm duy trì chính sách siêu nới lỏng. Theo tính toán, lãi suất tăng sẽ hỗ trợ đồng nội tệ. Nhưng với đồng Yên, logic đó dường như đang bị vô hiệu hóa.

Nguyên nhân của đồng Yên trượt giá

Theo các chuyên gia, tốc độ bình thường hóa của BoJ đang quá chậm so với khoảng cách lãi suất cần thu hẹp. Một số thành viên hội đồng đã phát tín hiệu cứng rắn hơn. Ông Naoki Tamura, thành viên Hội đồng chính sách BoJ cho rằng lãi suất có thể cần nâng thêm từng bước 0,25 điểm phần trăm, hướng tới mức trung tính khoảng 2%. Phó Thống đốc BoJ Ryozo Himino cũng cảnh báo lạm phát cơ bản có thể vượt mục tiêu 2% nếu cú sốc chi phí từ bên ngoài lan rộng vào giá trong nước.

Tuy nhiên, thị trường vẫn cho rằng quá trình này sẽ diễn ra thận trọng, nên các đợt tăng lãi suất nhỏ giọt chưa đủ để nhà đầu tư từ bỏ giao dịch chênh lệch lãi suất - vay Yên giá rẻ để mua tài sản lợi suất cao hơn ở nơi khác.

Vì vậy, biến số lớn hơn nằm ở phía Mỹ. Tại cuộc họp ngày 16 đến 17/6, Fed giữ nguyên lãi suất trong vùng từ 3,50% đến 3,75%. Nhưng điểm cốt lõi nằm ở mức dự báo trung vị cho cuối năm 2026 được nâng lên 3,8%, từ 3,4% hồi tháng 3.

Nói cách khác, kịch bản trung tâm của Fed đã đảo chiều từ một đợt cắt giảm sang hàm ý một đợt tăng. Nguyên nhân rõ ràng là lạm phát Mỹ đang bùng lên trở lại. CPI tháng 5 đạt 4,2% so với cùng kỳ, tăng từ 3,8% trong tháng 4, chủ yếu do giá năng lượng leo thang trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông.

Điều này khiến chênh lệch lãi suất Mỹ và Nhật vẫn đủ rộng để gây sức ép lên Yên. Dù BoJ đã đưa lãi suất lên 1%, nhưng khoảng cách chênh lệch lãi suất so với Fed vẫn vào khoảng 2,5 đến 2,75 điểm phần trăm.

Khi thị trường còn định giá khả năng Fed duy trì lập trường cứng rắn, những đợt tăng lãi suất quy mô nhỏ của BoJ khó tạo lực đảo chiều bền vững cho đồng Yên.

Áp lực trong nước cũng góp phần vào xu thế. Thâm hụt thương mại do nhập khẩu năng lượng và dòng vốn hộ gia đình Nhật chảy ra nước ngoài cũng góp phần kéo Yên xuống.

Tác động tới dòng vốn Nhật tại Việt Nam

Với Việt Nam, nơi Nhật Bản là nhà đầu tư lớn thứ ba với 5.722 dự án còn hiệu lực và tổng vốn đăng ký 78,9 tỷ USD tính đến cuối tháng 1/2026, tác động mang tính hai chiều.

Khi Yên mất giá, chi phí tương đối của các khoản đầu tư mới huy động bằng Yên có thể tăng lên, củng cố tâm thế thận trọng mà JETRO đã ghi nhận.

Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam thường mang tính chiến lược dài hạn, ít phản ứng với biến động tỷ giá ngắn hạn hơn so với vốn danh mục.

Khảo sát JETRO cho thấy nền tảng vẫn vững chắc. 56,9% doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam dự định mở rộng hoạt động trong 1 đến 2 năm tới.

Bởi vậy, rủi ro lớn hơn nằm ở kịch bản carry trade đảo chiều đột ngột. Các chuyên gia cho rằng nếu thị trường đóng vị thế vay Yên trên diện rộng, biến động có thể lan sang các thị trường mới nổi qua kênh tâm lý rủi ro, tỷ giá khu vực và dòng vốn ngoại.

Nam Trần