Kinh tế địa phương
An Giang: “bứt phá” dịch vụ công trực tuyến làm hài lòng người dân và doanh nghiệp
Theo kết quả Bộ chỉ số đánh giá dịch vụ công trực tuyến của Chính phủ, tỉnh An Giang đạt điểm tổng hợp là 95,99 điểm, xếp loại xuất sắc và thứ 16/34 tỉnh/thành trên cả nước. Trong đó mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đạt 18/18 điểm.

Đồng bộ hóa dịch vụ công trực tuyến
Theo Báo cáo của Sở Khoa học Công nghệ tỉnh An Giang cho biết, tính đến ngày 16/6/2026, tổng số dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) đang cung cấp là 1.843 dịch vụ công. Trong đó tiếp nhận, xử lý trên Hệ thống bộ, ngành là 1.756 dịch vụ công và trên Hệ thống thông tin giải quyết Thủ tục hành chính (TTHC) của tỉnh là 87 dịch vụ công, 1.522 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 760 dịch vụ công trực tuyến một phần. Theo đó tỉnh đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC; cắt giảm điều kiện kinh doanh, cụ thể: Theo quyết định của UBND chỉ đạo đến nay toàn tỉnh đã công bố danh mục 1.387 TTHC thực hiện giảm 50% thời gian giải quyết, 135 TTHC thực hiện cắt giảm 30% thời gian giải quyết.
Giám đốc Sở KHCN tỉnh An Giang, ông Võ Minh Trung cho biết, thời gian qua UBND tỉnh đã yêu cầu các đơn vị có TTHC đặc thù tiến hành rà soát tái cấu trúc quy trình TTHC trên môi trường số, sử dụng dữ liệu trong các Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, chuyên ngành để tự động điền thông tin, thay thế thành phần hồ sơ. Tỉnh tiếp tục chỉ đạo các đơn vị khẩn trương triển khai thực hiện Quyết định của 5 Bộ, ngành: Tư pháp, Xây dựng, Y tế, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo… Song song đó, hệ thống chính quyền tỉnh An Giang đã tổ chức vận hành 5 Nền tảng/Hệ thống thông tin quan trọng của tỉnh. Theo đó thống nhất sử dụng các hệ thống thông tin, phần mềm dùng chung triển khai trên địa bàn tỉnh An Giang (mới). Đảm bảo 100% tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan nhà nước có nhu cầu được cấp chữ ký số để sử dụng. Hiện các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh đã được cấp 20.312 chữ ký số; cấp 22.266 chữ ký số dạng ký số tập trung (RSSP) cho viên chức ngành Giáo dục, Y tế sử dụng ký số học bạ điện tử, bệnh án điện tử.
“Hệ thống IOC đã thực hiện điều chỉnh theo mô hình chính quyền 2 cấp từ tháng 7/2025, thực hiện cập nhật đồng bộ dữ liệu cho 6 lĩnh vực bao gồm: Chỉ tiêu Kinh tế xã hội, Hành chính công, Y tế, Giáo dục, Phân tích tình hình dân cư, Quản lý văn bản và điều hành, GIS. Các hệ thống dùng chung của tỉnh đảm bảo hoạt động ổn định, liên tục, không bị gián đoạn. Tỉnh đã hình thành 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trong đó 8 cơ sở dữ liệu đang được khai thác thường xuyên. 70% sở, ngành, địa phương đã xây dựng hoặc nâng cấp hệ thống Cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ kết nối, chia sẻ, cho thấy sự chủ động của các đơn vị trong quá trình chuyển đổi số”, ông Trung chia sẻ.
Đáng kể nhất là công tác số hóa hồ sơ và tài liệu đã đạt trên 80%, với tập trung chính vào các lĩnh vực: đất đai, tư pháp, hộ tịch, xây dựng. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã đạt mức hoàn thành tuyệt đối, với 100% (5.625.798 hồ sơ) được số hóa. Cơ sở dữ liệu tình trạng hôn nhân tiến hành nhanh, với 52.992 hồ sơ đã xử lý (chiếm 98,7% trong tổng số 53.702), trong đó 16.751 hồ sơ (31,2%) đã đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong lĩnh vực giáo dục, 100% cơ sở giáo dục đã cập nhật thông tin về trường, lớp, giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất trên hệ thống quốc gia (https://csdl.moet.gov.vn), tạo nên một cơ sở dữ liệu giáo dục thống nhất và chính xác.
“Kết quả thực hiện việc kết nối, khai thác các cơ sở dữ liệu theo lộ trình tại Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025. Đến nay, tỉnh An Giang đã thực hiện kết nối, khai thác 03/11 cơ sở dữ liệu trọng yếu (Đất đai, tài chính, hộ tịch) và khai thác 7 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành. Tuy nhiên, vừa qua Công an tỉnh đã có Tờ trình đề xuất xây dựng Đề án Trung tâm dữ liệu của tỉnh An Giang gồm 2 dự án thành phần, có thời gian thực hiện từ năm 2026 - 2027. Đây sẽ là góp phần hoàn hảo thêm cơ sở dữ liệu ở địa phương”, ông Trung cho biết

Mục tiêu hài lòng người dân và doanh nghiệp
Theo Báo cáo mơi đây của Sở KHCN An Giang chi biết, hạ tầng viễn thông trên toàn tỉnh An Giang đến nay về Internet tốc độ cao đã được phủ tới 100% trung tâm xã, phường, đặc khu; Internet băng rộng di động 3G/4G/5G phủ sóng đến 100% khu phố, khóm, ấp. Tỷ lệ phủ mạng Internet băng rộng cố định và 3G/4G/5G đạt 100% các xã toàn tỉnh. Tỷ lệ người sử dụng có khả năng truy nhập băng rộng cố định với tốc độ trên 1Gb/s đạt: 100% (theo đánh giá 2025). Tỷ lệ phủ sóng mạng di động băng rộng 5G trên dân số đạt: 92%; tỷ lệ hộ gia đình có kết nối Internet băng rộng cáp quang đạt 82,86% (số liệu Cục Viễn thông cung cấp Quý I/2026). Định hướng đến năm 2030 phát triển thêm 4.800 vị trí cột ăng ten thu phát sóng thông tin di động 5G; đẩy mạnh phát triển mạng thông tin di động 5G.
Cổng tích hợp thông tin du lịch tỉnh đã cập nhật, số hóa khoảng 1.500–2.000 dữ liệu du lịch chuyên ngành trên môi trường số phục vụ quảng bá, tra cứu và cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp và khách du lịch. Khoảng 60–65% dữ liệu du lịch cơ bản của ngành đã được cập nhật và cung cấp trên hệ thống. Hệ thống bước đầu hỗ trợ quảng bá hình ảnh du lịch An Giang, cung cấp thông tin cho người dân và khách du lịch trên môi trường mạng; trung bình khoảng 200 lượt truy cập/ngày, 600 lượt truy cập/tháng; trên 1.000 người dùng; ước tính khoảng 20–30% nhu cầu tra cứu thông tin du lịch được tiếp cận qua nền tảng số của ngành..
Đáng kể nhất là sự hoàn thiện số hóa y tế từ tỉnh đến cơ sở; sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt để thanh toán viện phí và các giao dịch khác. Phần mềm quản lý bệnh viện (HIS) đã triển khai đến 100% (46/46) các cơ sở y tế có giường bệnh trên địa bàn tỉnh. Thực hiện hướng dẫn sử dụng Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID; 100% cơ sở khám chữa bệnh sử dụng thẻ Căn cước hoặc ứng dụng VNeID trong khám chữa bệnh thay thế thẻ BHYT. Tính đến 15/6/2026, có 377/377 (đạt 100%) cơ sở khám chữa bệnh BHYT triển khai thực hiện sử dụng CCCD có gắn chíp trong khám, chữa bệnh BHYT.
“Số lượng định danh cá nhân (ĐDCN)/CCCD được đồng bộ với thẻ BHYT còn hiệu lực để đi khám chữa bệnh bằng CCCD là 3.272.510. Triển khai nền tảng quản lý lưu trú tại cơ sở khám chữa bệnh (ASM) tại địa chỉ https://asmbca.gtelcds.vn/. Triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác khám bệnh, chữa bệnh (phân tích hình ảnh X-quang, điện tim,…) và hỗ trợ chẩn đoán tại một số bệnh viện tuyến tỉnh. Đồng thời nghiên cứu triển khai hệ thống khám chữa bệnh từ xa (Telehealth); thí điểm “Hệ thống bệnh án điện tử (GEMR)” trên nền điện toán đám mây tích hợp liên thông Hệ thống điều phối dữ liệu y tế tại tỉnh An Giang”, ông Trung chia sẻ.
Điều nổi bậc nhất trong công tác số hóa là số mét tài liệu đã số hoá tại các cơ quan, tổ chức, địa phương là 2.327,1 mét tương đương 11.636.347 trang A4 đạt 47,1%. Sở Nội vụ phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tổng hợp nhu cầu số hóa tài liệu lưu trữ với khối lượng 14.841 mét trong tổng số 69.643,35 mét tài liệu tồn đọng, tích đống. Tuy nhiên, phần lớn tài liệu chưa được chỉnh lý hoàn chỉnh chưa thống kê theo tần suất sử dụng nên chưa đủ điều kiện triển khai số hóa. Đang triển khai thử nghiệm phần mềm theo dõi, đánh giá công chức theo quy định tại Nghị định số 335/2025/NĐ-CP cho 10 cơ quan, đơn vị. Tổng số cơ sở dữ liệu CBCCVC của tỉnh An Giang là 75.126 hồ sơ, đã được cập nhật và đồng bộ lên Cơ sở dữ liệu của Bộ Nội vụ. Qua quá trình tiếp tục rà soát, cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu, đến nay tổng số hồ sơ trên hệ thống cơ sở dữ liệu tỉnh An Giang đủ điều kiện đồng bộ lên Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC theo quy định là 63.498 hồ sơ.
Sở Nội vụ đang triển khai Dự án triển khai mở rộng phần mềm quản lý công tác cải cách hành chính đến cấp xã góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về cải cách hành chính, nâng cao các chỉ số PAR Index, SIPAS, cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); Nâng cấp, mở rộng phần mềm Quản lý thi đua, khen thưởng triển khai tại tỉnh An Giang. Đáng chú ý, nhiều lĩnh vực ghi nhận kết quả tích cực. Công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được duy trì ổn định với tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn ở cấp tỉnh đạt 98,35%; cấp xã đạt 98,98%. Công tác cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử từng bước tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.