Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Cú hích mới cho chuyển đổi số và tự chủ công nghệ

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn 02/07/2026 04:30

Từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số 2025 và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về thể chế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ngày 1/7/2026 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi Luật Chuyển đổi số 2025 và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) đồng thời chính thức có hiệu lực. Việc triển khai hai đạo luật trong cùng thời điểm được kỳ vọng sẽ tạo nên "cặp đòn bẩy" về thể chế, vừa thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc, vừa tạo động lực để Việt Nam nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chiến lược và phát triển các doanh nghiệp công nghệ có sức cạnh tranh quốc tế.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã đưa ra nhiều kiến nghị đối với các nội dung sửa đổi của Thông tư 10/2026/TT-BKHCN.
Ngày 1/7/2026 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi Luật Chuyển đổi số 2025 và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) đồng thời chính thức có hiệu lực.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả về phát triển hạ tầng số, dịch vụ công trực tuyến, kinh tế số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn, từ dữ liệu chưa được kết nối đồng bộ, đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) còn phân tán, đến việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa tạo được sức lan tỏa.

Bởi vậy, việc hai đạo luật cùng có hiệu lực được kỳ vọng sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý thống nhất, vừa thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc, vừa hình thành hệ sinh thái để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu, làm chủ công nghệ và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Đối với Luật Chuyển đổi số 2025, lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật điều chỉnh toàn diện hoạt động chuyển đổi số của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Luật đặt ra các nguyên tắc phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số trên cơ sở dữ liệu thống nhất, nền tảng số đồng bộ và khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống.

Đây được đánh giá là cơ sở để khắc phục tình trạng đầu tư cục bộ, tạo điều kiện để dữ liệu trở thành nguồn lực mới phục vụ quản trị và phát triển kinh tế.

Không chỉ hoàn thiện hạ tầng thể chế, Luật còn thể hiện cam kết về nguồn lực khi quy định Nhà nước dành tối thiểu 1% tổng chi ngân sách hằng năm cho chuyển đổi số trong tổng chi tối thiểu 3% dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong khi đó, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển từ chính sách khuyến khích sang chính sách nuôi dưỡng năng lực công nghệ quốc gia. Lần đầu tiên, các khái niệm công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ chiến lược và doanh nghiệp công nghệ chiến lược được luật hóa.

Theo ông Lý Hoàng Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Luật không quy định cứng danh mục công nghệ mà giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và cập nhật định kỳ để phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ.

Một điểm đáng chú ý khác là cách tiếp cận mới về chính sách ưu đãi. Thay vì hỗ trợ dàn trải, Luật tập trung khuyến khích doanh nghiệp đầu tư thực chất cho R&D, chuyển giao công nghệ lõi và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Các doanh nghiệp công nghệ cao được phân thành nhiều mức ưu đãi khác nhau, trong đó doanh nghiệp có tỷ lệ đầu tư R&D lớn sẽ được hưởng mức hỗ trợ cao nhất. Đồng thời, Luật cũng bãi bỏ giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, chuyển sang cơ chế tự đánh giá theo tiêu chí, góp phần giảm thủ tục hành chính và tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.

VCCI vừa có văn bản góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển từ chính sách khuyến khích sang chính sách nuôi dưỡng năng lực công nghệ quốc gia.

Không chỉ dừng lại ở các ưu đãi về thuế và đầu tư, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) còn mở rộng chính sách phát triển thị trường thông qua cơ chế ưu tiên sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong hoạt động mua sắm công.

Dù đánh giá cao những thay đổi về thể chế, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng hiệu quả của các đạo luật sẽ phụ thuộc rất lớn vào quá trình triển khai trên thực tế.

Ông Vũ Thanh Thắng, Chủ tịch công ty cổ phần AIZ, Đồng sáng lập Công ty cổ phần An ninh mạng SCS cho rằng, kỳ vọng lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp hiện nay là các quy định mới phải chuyển được từ chỗ “đúng về mặt pháp lý” sang “có thể sử dụng được trong thực tế”.

Doanh nghiệp không chỉ cần một khung pháp lý mang tính nguyên tắc, mà cần những quy trình rõ ràng và khả thi để biết phải thực hiện như thế nào trong từng bước cụ thể. Chẳng hạn, cơ chế đặt hàng nghiên cứu được thực hiện ra sao, thủ tục nhận chuyển giao công nghệ như thế nào, tài sản trí tuệ được định giá theo phương pháp nào, quyền khai thác thuộc về bên nào,...

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Thắng cho rằng, cần ưu tiên ba nhóm giải pháp.

Thứ nhất, sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành với quy định cụ thể về định giá, chuyển giao và góp vốn bằng tài sản trí tuệ. Thứ hai, xây dựng các tổ chức trung gian chuyên nghiệp đóng vai trò kết nối giữa viện, trường và doanh nghiệp, có đủ năng lực để hỗ trợ từ khâu đánh giá công nghệ, tư vấn pháp lý đến xúc tiến thương mại hóa, thay vì chỉ dừng ở các hội thảo hay biên bản ghi nhớ hợp tác. Thứ ba, thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro và có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm và thương mại hóa các công nghệ do Việt Nam làm chủ.

Nếu thực hiện tốt những nội dung này, các luật mới sẽ không chỉ hoàn thiện khung thể chế, mà còn tạo điều kiện để hình thành một thị trường công nghệ vận hành hiệu quả, qua đó thúc đẩy dòng chảy tri thức từ viện, trường sang khu vực doanh nghiệp và đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo.

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn