Kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới

Khai phá tiềm năng điện địa nhiệt ở Đông Nam Á

Cẩm Anh 04/07/2026 11:06

Biến động năng lượng toàn cầu đang đưa điện địa nhiệt trở lại tâm điểm chú ý, đặc biệt ở Đông Nam Á.

da11b73c97b8280977ce83e2fe6bc1a95e301798eeb44132e9882d3553f8f4ce.webp
Nhà máy điện địa nhiệt ở tỉnh Leyte, Philippines. Ảnh: ADOBESTOCK

Tiềm năng điện địa nhiệt lớn

Trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu, điện địa nhiệt đang nhận được sự quan tâm trở lại, trong đó có các quốc gia Đông Nam Á nằm dọc Vành đai lửa Thái Bình Dương.

Khu vực giàu núi lửa này sở hữu các bể chứa thủy nhiệt, gồm nước nóng bị giữ lại trong các lớp đá xốp hoặc giữa những khe nứt của đá. Các dự án địa nhiệt khoan sâu xuống lòng đất để khai thác nguồn nhiệt này phục vụ trực tiếp nhu cầu sưởi ấm hoặc phát điện.

Nguồn năng lượng này sạch hơn nhiên liệu hóa thạch và ổn định hơn điện mặt trời hay điện gió. Tuy nhiên, khai thác nguồn năng lượng nằm sâu dưới lòng đất không phải là điều dễ dàng.

Trong các cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu những năm 1970, Philippines đã đầu tư vào điện địa nhiệt. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong ngành thừa nhận rằng hoạt động thăm dò địa nhiệt nổi tiếng là tốn kém và chứa đựng nhiều bất định.

Tại khu vực, sự phát triển của nguồn năng lượng này lâu nay bị hạn chế bởi những thách thức về tài chính và quy định pháp lý. Theo ước tính năm 2024 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), nếu các công nghệ mới được ứng dụng thành công trong việc giảm chi phí, điện địa nhiệt có thể đáp ứng tới 15% mức tăng nhu cầu điện toàn cầu từ nay đến năm 2050.

Philippines và Indonesia có nhiều lợi thế về địa nhiệt. Tuy nhiên, quá trình mở rộng công suất năng lượng địa nhiệt tại hai quốc gia này đang chững lại do nhu cầu vốn đầu tư ban đầu cao và những rủi ro trong quá trình thăm dò.

Tính đến cuối năm 2025, Philippines có 2 GW công suất điện địa nhiệt, đứng thứ ba thế giới sau Mỹ với 4 GW và Indonesia với 2,7 GW, theo nền tảng tin tức ThinkGeoEnergy.

Một báo cáo được Chính phủ Philippines công bố rộng rãi năm 2020 ước tính nước này có thể sở hữu tiềm năng tài nguyên địa nhiệt lên tới 4 GW.

Dù là một trong những quốc gia đi đầu, thị trường điện địa nhiệt của Philippines đã chậm lại kể từ những năm 2000. Theo một báo cáo của BloombergNEF, trong 10 năm tính đến năm 2025, nước này chỉ bổ sung thêm 35 MW công suất điện địa nhiệt.

Năm 2025, điện địa nhiệt chiếm 8,4% sản lượng điện của Philippines, trong khi điện than chiếm tới 58,5%. Ông Grant Hauber, Cố vấn tài chính năng lượng chiến lược khu vực châu Á tại Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính (IEEFA) cho biết, một cuộc đấu giá năng lượng xanh được tổ chức vào giữa năm 2025 chỉ thu hút được 30,9 MW công suất điện địa nhiệt từ hai dự án, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 100 MW.

Trong khi đó, Indonesia mới khai thác chưa tới 10% tiềm năng điện địa nhiệt của mình, theo Fabby Tumiwa, Giám đốc điều hành Viện Cải cách Dịch vụ Thiết yếu Indonesia (IESR). Năm 2025, điện địa nhiệt chiếm 5,2% sản lượng điện của nước này.

Ông Michael Chendorain, phụ trách toàn cầu về kỹ thuật địa nhiệt và nước ngầm tại công ty tư vấn Arup, cho rằng tài chính là một trong những rào cản lớn nhất. “Có một khoảng thời gian kéo dài nhiều năm từ lúc một dự án trông có vẻ khả thi trên giấy cho đến khi huy động đủ vốn để tiến hành những mũi khoan đầu tiên. Rất khó để xác định chính xác quá trình này sẽ kéo dài bao lâu”, ông nói.

Đồng quan điểm, bà Dinita Setyawati, chuyên gia phân tích năng lượng cấp cao khu vực châu Á tại Ember, các dự án còn phải đối mặt với những lo ngại về môi trường và xã hội.

“Một số trữ lượng địa nhiệt nằm trong các khu rừng được bảo vệ hoặc tại những địa điểm có ý nghĩa văn hóa quan trọng đối với cộng đồng địa phương”, chuyên gia này cho biết.

Chẳng hạn, năm 2017, Indonesia xác định đảo Flores là khu vực để tiếp tục phát triển thành một “hòn đảo điện địa nhiệt”. Tuy nhiên, kế hoạch này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của người dân địa phương do lo ngại về ô nhiễm và nguy cơ tai nạn.

Ở những nơi khác trong khu vực, hoạt động thăm dò địa nhiệt chủ yếu giới hạn tại các khu vực có núi lửa hoặc suối nước nóng như tại Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, Việt Nam chưa có nhà máy điện địa nhiệt nào.

Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia của Việt Nam đặt mục tiêu đạt 45 MW công suất điện địa nhiệt vào năm 2030. Tuy nhiên, lĩnh vực này tiếp tục đối mặt với những thách thức, bao gồm chi phí đầu tư ban đầu cao và yêu cầu công nghệ phức tạp.

10-du-an-dia-nhiet-lon-nhat-the-gioi_6.jpg
Khu phức hợp điện địa nhiệt Tiwi, Philippines

Trong khi đó, Malaysia và Thái Lan có tiềm năng hạn chế hơn do điều kiện địa chất cũng như việc hai nước tập trung vào những nguồn điện sạch khác.

Cả hai quốc gia đều đặt ra những mục tiêu tương đối khiêm tốn đối với điện địa nhiệt trong lộ trình năng lượng. Malaysia chỉ đặt mục tiêu đạt 30 MW điện địa nhiệt vào năm 2035, trong khi Thái Lan hướng tới công suất 21 MW vào năm 2037.

Thái Lan hiện có một cơ sở điện địa nhiệt thí điểm là nhà máy Fang công suất 300 kW tại Chiang Mai, hoạt động từ năm 1989. Tuy nhiên, sau đó không có thêm bước phát triển đáng kể nào và điện địa nhiệt được dự báo chỉ đóng “vai trò nhỏ” trong quá trình chuyển dịch năng lượng của nước này.

Giải pháp nào khai khác hiệu quả?

Dù vậy, điện địa nhiệt vẫn có sức hấp dẫn vì nhiều lý do. Trước hết, xét trong dài hạn, các nhà máy địa nhiệt không cần nhiên liệu và chi phí vận hành tương đối thấp.

Mặc dù các nhà máy điện địa nhiệt thường được thiết kế với tuổi thọ khoảng 30 năm, nhiều nhà máy có thể vận hành trên 60 năm, trong khi một số nhà máy hiện đại được kỳ vọng có tuổi thọ lên tới 100 năm. Trong khi đó, các nhà máy điện than thường hoạt động trong khoảng 40 năm.

Khi chi phí được phân bổ trong một thời gian vận hành dài hơn, điện địa nhiệt có thể cạnh tranh với điện hạt nhân và điện than xét về chi phí phát điện bình quân trong toàn bộ vòng đời nhà máy.

Thứ hai, khác với điện mặt trời và điện gió, nguồn điện địa nhiệt có tính ổn định cao và không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. "Điện địa nhiệt mang lại điều mà nhiều công nghệ năng lượng sạch vẫn chưa thể cung cấp: nguồn điện ổn định, liên tục 24 giờ mỗi ngày”, Sanjeev Gupta, lãnh đạo phụ trách lĩnh vực năng lượng ASEAN và Singapore tại EY-Parthenon, nhận định.

Điện địa nhiệt có thể cung cấp nguồn điện nền hữu ích, phù hợp với những ngành tiêu thụ nhiều điện như luyện niken và trung tâm dữ liệu.

Nguồn năng lượng này cũng vượt trội so với nhiều loại hình năng lượng khác về hiệu suất và độ ổn định. Hệ số công suất, tỷ lệ giữa sản lượng điện thực tế và mức sản lượng tối đa về mặt lý thuyết của điện địa nhiệt chỉ đứng sau điện hạt nhân.

Những công nghệ mới có thể giúp năng lượng địa nhiệt trở nên khả thi ở nhiều khu vực hơn. Singapore có thể không phải là một ứng viên rõ ràng cho năng lượng địa nhiệt do quốc đảo này không có hoạt động núi lửa. Tuy nhiên, Singapore đang tiến hành khảo sát địa vật lý để xác định các nguồn tài nguyên địa nhiệt tiềm năng và vào tháng 4 đã phát hành yêu cầu đề xuất nghiên cứu việc triển khai các công nghệ địa nhiệt thế hệ mới.

Địa nhiệt thế hệ mới cũng đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư đại chúng. Vào tháng 5, doanh nghiệp chuyên về EGS Fervo Energy đã thực hiện đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng lớn nhất trong lĩnh vực năng lượng sạch tại Mỹ, với mức định giá hơn 10 tỷ USD.

Dù vậy, cả công nghệ EGS và AGS vẫn đang ở giai đoạn phát triển ban đầu, với chi phí cao và nhiều hạn chế cần giải quyết.

Để hiện thực hóa tiềm năng của năng lượng địa nhiệt tại Đông Nam Á, các vấn đề về tài chính và tác động tới cộng đồng địa phương cần được giải quyết.

Đối với các dự án truyền thống, việc tăng cường nguồn tài chính là yếu tố then chốt, đặc biệt thông qua hỗ trợ từ nguồn vốn công và các cơ chế hợp tác chia sẻ rủi ro giữa khu vực công và khu vực tư nhân.

Một số nhà đầu tư đã bắt đầu tăng cường tham gia. Vào tháng 10, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã phê duyệt khoản vay 180 triệu USD cho Geo Dipa Energy, một doanh nghiệp Nhà nước của Indonesia, để phát triển hai nhà máy điện địa nhiệt trên đảo Java, mỗi nhà máy có công suất 55 MW.

Theo chuyên gia Dinita Setyawati của Ember, các chính phủ cũng có thể hỗ trợ thông qua bảo lãnh và phân bổ đất đai. Đồng thời, để giải quyết những lo ngại về tác động của dự án, việc tham vấn cộng đồng địa phương đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Đối với các công nghệ thế hệ mới, các nhà hoạch định chính sách cần đánh giá thận trọng liệu những lợi ích tiềm năng có xứng đáng với các rủi ro hay không.

Về lý thuyết, Đông Nam Á nên khai thác tối đa nguồn năng lượng địa nhiệt mà khu vực có thể tiếp cận. Tuy nhiên, các chính phủ phải tìm ra một điểm cân bằng hợp lý.

Cẩm Anh