Quản trị

Quản trị

Thúc đẩy mô hình dịch vụ sinh thái cho doanh nghiệp KCN

Quân Bảo 07/07/2026 03:27

Một sự chuyển dịch tư duy ở các khu công nghiệp tại TP HCM để đáp ứng quy định EPR và giữ chân đơn hàng xuất khẩu.

Với khoảng 5.000 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu chế xuất và khu công nghiệp (KCN) tại TP HCM, câu hỏi không còn là "có nên chuyển đổi xanh hay không", mà là "chuyển đổi bằng cách nào để không bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu".

Tại hội thảo “Nâng cao nhận thức về pháp luật bảo vệ môi trường và giải pháp tài chính cho doanh nghiệp khu công nghiệp TP HCM”, ông Trần Thanh Tùng, Trưởng phòng Quản lý môi trường thuộc Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghệ TP HCM (HEPZA), khuyến cáo các công ty phát triển hạ tầng cần thay đổi tư duy, chuyển từ vai trò "cho thuê đất" sang "cung cấp dịch vụ sinh thái" và hạ tầng thông minh cho doanh nghiệp thuê xưởng. Đây được xem là điều kiện sống còn, bởi nhưng quy định về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đang đặt ra những ràng buộc pháp lý ngày càng khắt khe. Thêm vào đó, xu hướng "xanh hóa" chuỗi cung ứng toàn cầu buộc doanh nghiệp phải chứng minh mình nằm trong một hệ sinh thái sản xuất bền vững nếu muốn duy trì đơn hàng và uy tín với đối tác quốc tế.

n.jpg
Ông Trần Thanh Tùng, Trưởng phòng Quản lý môi trường thuộc Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghệ TP HCM (HEPZA)

Theo ông Trần Thanh Tùng, khái niệm hạ tầng KCN hiện nay cần phải được định nghĩa lại. Không dừng ở các tiện ích cơ bản, chủ đầu tư hạ tầng buộc phải quy hoạch lại và cải tạo hệ thống xử lý nước thải theo hướng có thể tuần hoàn, tái sử dụng ngay trong nội khu, thay vì xả thải ra ngoài như mô hình truyền thống. Song song đó, ban quản lý còn phải xây dựng được cơ sở dữ liệu tập trung để nắm bắt chính xác mức độ phát thải và lưu lượng nước thải của từng doanh nghiệp trong khu.

Những dữ liệu này không chỉ phục vụ mục đích quản lý nội bộ, mà nó còn giúp các cơ quan quản lý như HEPZA thẩm định doanh nghiệp sinh thái một cách công bằng và nhanh chóng hơn. Đây là điều mà trước đây thường mất nhiều thời gian để thực hiện do thiếu số liệu

Ngoài ra, ông Trần Thanh Tùng cũng cho rằng các KCN cần thành lập một bộ phận quản lý chuyên trách cho mô hình sinh thái, đóng vai trò hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục môi trường lẫn hướng dẫn kỹ thuật trong quá trình chuyển đổi xanh.

Nếu hạ tầng thông minh là nền tảng, thì "cộng sinh công nghiệp" là nơi tạo ra giá trị kinh tế thực sự.

PGS TS Lê Thị Kim Oanh, Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Văn Lang, khẳng định KCN là nơi lý tưởng nhất để thí điểm mô hình kinh tế tuần hoàn, bởi đây là nơi quy tụ nhiều doanh nghiệp cùng lúc và có tổ chức quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên, bà Oanh nhấn mạnh rằng để cộng sinh công nghiệp khả thi, doanh nghiệp bắt buộc phải minh bạch hóa dữ liệu về chất thải đầu ra cũng như nguyên liệu đầu vào của mình. Thiếu sự minh bạch này, ý tưởng "rác của nhà máy này là nguyên liệu của nhà máy kia" sẽ mãi chỉ nằm trên giấy.

Từ dữ liệu phát thải được thu thập, ông Trần Thanh Tùng cho biết chủ đầu tư hạ tầng sẽ đóng vai trò cầu nối, kết nối các doanh nghiệp có khả năng trao đổi nguồn lực với nhau, qua đó giúp tiết kiệm đáng kể chi phí đầu vào cho cả hai bên.

Mô hình này không phải sáng kiến của riêng Việt Nam. Theo khung quốc tế về KCN sinh thái của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), một KCN muốn được công nhận là KCN sinh thái phải có tối thiểu 20% doanh nghiệp trong khu đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường.

Bám sát khung tham chiếu này, bà Đỗ Thị Diễm Thúy, Phó Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP HCM, cho biết thành phố đang đặt mục tiêu đến năm 2035 có tối thiểu 20% doanh nghiệp trong các KCN áp dụng giải pháp sản xuất sạch và giảm phát thải. Đây là một con số không hề dễ đạt nếu thiếu cơ chế hỗ trợ đi kèm.

Một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là việc vẫn thiếu quy định cụ thể về tái sử dụng nước thải sau xử lý. Điều này khiến các KCN muốn tuần hoàn nước nội khu cũng khó triển khai đúng luật.

Về điểm này, bà Đỗ Thị Diễm Thúy cho biết Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM kỳ vọng sẽ tận dụng cơ chế của Luật đô thị đặc biệt để ban hành các chính sách ưu đãi riêng cho hoạt động tái chế rác thải, qua đó tháo gỡ những nút thắt pháp lý mà các quy định chung của cả nước chưa giải quyết được.

Chuyển đổi máy móc, thiết bị theo hướng xanh hóa đòi hỏi nguồn vốn đầu tư không nhỏ. Tuy nhiên bài toán này cũng mở ra không gian để các tổ chức tài chính vào cuộc. Các ngân hàng lớn như Vietcombank hay Vietinbank lần lượt xây dựng các gói tín dụng xanh cho doanh nghiệp. Hoặc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP HCM (HFIC) đang triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn lên tới 100% trong thời hạn 7 năm cho các dự án đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn.

Theo ông Nguyễn Hà Lam, Phó Trưởng phòng Kế hoạch và Nghiên cứu phát triển HFIC, hạn mức vốn vay được hỗ trợ có thể lên tới 200 tỷ đồng cho mỗi dự án. Đây là con số đủ lớn để nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong KCN cân nhắc nghiêm túc việc nâng cấp dây chuyền sản xuất thay vì trì hoãn.

Nhìn lại toàn cảnh, có thể thấy được xu hướng thúc đẩy mô hình dịch vụ sinh thái cho doanh nghiệp KCN. Vốn đã có, khung pháp lý đang được hoàn thiện, tiêu chuẩn quốc tế cũng đã rõ ràng. Điều còn thiếu là sự chủ động minh bạch dữ liệu từ chính các doanh nghiệp, một mắt xích mà không cơ quan nào có thể thay họ thực hiện.

Với các chủ hạ tầng KCN, bài toán đặt ra không còn là lựa chọn giữa giữ nguyên mô hình cho thuê đất truyền thống hay chuyển đổi. Khi các quy định EPR ngày càng siết chặt và chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe với tiêu chuẩn môi trường, việc chậm chân đồng nghĩa với nguy cơ đánh mất lợi thế cạnh tranh vào tay những KCN đã sớm chuyển mình. Khi nguồn vốn ưu đãi đã sẵn sàng và lộ trình chính sách đang định hình, phần còn lại phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp và chủ đầu tư hạ tầng có phối hợp đủ nhanh để không bị bỏ lại phía sau trong cuộc đua xanh hóa toàn cầu hay không.

Quân Bảo