Nghiên cứu - Trao đổi
Hoàn thiện quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật
Không chỉ đơn thuần đơn giản hóa thủ tục hành chính, việc sửa đổi Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho quản lý thuốc bảo vệ thực vật theo hướng hiện đại, góp phần giảm rủi ro cho nông sản xuất khẩu.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường trong đó có Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật đang được lấy ý kiến được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển trong quản lý lĩnh vực thuốc bảo vệ thực vật theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành. Tuy nhiên, theo ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp và chuyên gia, để đáp ứng yêu cầu hội nhập và thúc đẩy xuất khẩu nông sản, các quy định mới cần được hoàn thiện theo hướng tăng cường hậu kiểm, ứng dụng công nghệ số và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Bà Phạm Thị Kim Liên, Giám đốc Phát triển bền vững Vnagrifood cho rằng việc sửa đổi luật không nên chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục mà cần biến công tác quản lý thuốc bảo vệ thực vật thành công cụ phòng ngừa rủi ro thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Góp ý sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 51 và khoản 4 Điều 52 của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật về Giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật có thời hạn 10 năm và được gia hạn, bà Phạm Thị Kim Liên đề nghị bổ sung yêu cầu hồ sơ đăng ký hoặc gia hạn phải kèm theo nội dung đối chiếu mức dư lượng tối đa (MRL) của hoạt chất với ít nhất bốn thị trường xuất khẩu trọng điểm gồm Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản và Hoa Kỳ, trên cơ sở các cơ sở dữ liệu MRL quốc tế như Codex, EU Pesticides Database, Japan Positive List và USDA FAS MRL Database.
Theo bà Liên, nếu hoạt chất có ngưỡng MRL tại các thị trường này thấp hơn đáng kể so với quy định của Việt Nam, cơ quan đăng ký cần có cảnh báo hoặc khuyến nghị hạn chế phạm vi cây trồng, mục đích sử dụng nhằm hạn chế nguy cơ nông sản xuất khẩu bị cảnh báo hoặc trả về do vượt ngưỡng dư lượng.
Bên cạnh đó, đối với thủ tục gia hạn giấy chứng nhận, bà đề xuất áp dụng cơ chế gia hạn tự động trên nền tảng số đối với các trường hợp đáp ứng đầy đủ yêu cầu hậu kiểm về an toàn, hiệu quả sử dụng và không phát sinh cảnh báo dư lượng, thay vì tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp nộp lại hồ sơ giấy.
Đối với sửa đổi, bổ sung Điều 66 của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật quy định Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc bảo vệ thực vật có thời hạn 5 năm, bà Liên kiến nghị gắn điều kiện sản xuất với các tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMP) được quốc tế công nhận, đồng thời từng bước yêu cầu các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 đối với hoạt động kiểm nghiệm chất lượng nội bộ.
Theo bà, đây là điều kiện quan trọng để kết quả kiểm nghiệm của Việt Nam có thể được các đối tác nhập khẩu công nhận, góp phần giảm tình trạng phải kiểm nghiệm lại khi hàng hóa xuất khẩu.
Ngoài ra, thời hạn 5 năm của giấy chứng nhận cần đi kèm cơ chế phân loại rủi ro đối với cơ sở sản xuất để xác định tần suất thanh tra, kiểm tra. Những cơ sở có lịch sử tuân thủ tốt nên được giảm tần suất kiểm tra, trong khi nguồn lực quản lý tập trung vào các cơ sở có nguy cơ cao.

Cũng đưa ra góp ý liên quan đến sửa đổi, bổ sung Điều 66 của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP của Chính phủ đã quy định không thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật; các giấy chứng nhận đã được cấp trước thời điểm nghị quyết có hiệu lực tiếp tục được sử dụng và không xác định thời hạn.
Tuy nhiên, khi thể chế hóa nội dung này, Dự thảo luật chỉ bỏ quy định về thời hạn của giấy chứng nhận nhưng vẫn giữ nguyên thủ tục cấp giấy chứng nhận và không có bất kỳ quy định nào về việc đây là giấy phép “không có thời hạn”. Điều này có thể khiến cho quy định về thời hạn của Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật trở nên thiếu rõ ràng.
Theo VCCI, việc bỏ thời hạn của giấy phép là bước cải cách tích cực, song để thực sự giảm gánh nặng thủ tục hành chính, cần nghiên cứu chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm. Theo đó, thay vì yêu cầu doanh nghiệp phải xin giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán, cơ quan quản lý chỉ cần quy định các điều kiện kinh doanh, còn việc đáp ứng các điều kiện này sẽ được kiểm tra trong quá trình hoạt động và xử lý nếu phát hiện vi phạm.
VCCI cho rằng cách tiếp cận này vừa phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, vừa tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp mà vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước. Trong trường hợp chưa thể chuyển sang cơ chế hậu kiểm hoàn toàn, cơ quan soạn thảo cần bổ sung quy định khẳng định rõ Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật là giấy phép không có thời hạn, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình áp dụng.