Kinh tế

Kinh tế

“Nắn dòng” FDI

Trương Khắc Trà 16/07/2026 03:14

Thế giới đang chứng kiến một cuộc dịch chuyển dòng vốn FDI chưa từng có, khi cuộc đua công nghệ trở thành tâm điểm cạnh tranh giữa các quốc gia.

AI, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ sinh học hay năng lượng sạch đang thay thế những ngành thâm dụng lao động.

fdi-6-thang-2026.jpeg

Với Việt Nam, vấn đề lúc này là triển khai hiệu quả các giải pháp để “nắn dòng” vốn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và những ngành có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, qua đó biến FDI thành động lực nâng cấp năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ nhất, thay đổi tư duy ưu đãi: Các tập đoàn công nghệ lớn không chỉ tìm kiếm chi phí thấp, mà còn tìm kiếm một môi trường có khả năng hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển sản phẩm. Nếu chính sách vẫn tiếp tục ưu đãi chủ yếu dựa trên “đầu vào”, Việt Nam sẽ khó tạo được khác biệt so với nhiều quốc gia khác trong khu vực.

Ông Nguyễn Văn Khoa, Tổng giám đốc Tập đoàn FPT đề xuất: “Chính phủ đầu tư mạnh vào hạ tầng dùng chung cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như năng lực tính toán hiệu năng cao, dữ liệu chất lượng cao, điện toán đám mây, hạ tầng an ninh mạng và các phòng thí nghiệm mở, đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu để thúc đẩy thương mại hóa công nghệ”.

Dự án đầu tư công nghệ cao nên được hưởng mức ưu đãi tương xứng khi cam kết đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D), xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, sử dụng đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong các khâu nghiên cứu, tạo ra bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ hoặc nâng tỷ lệ nội địa hóa trong chuỗi cung ứng.

Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái tiếp nhận công nghệ: Trong hệ sinh thái đó phải có các trường đại học đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ, trung tâm dữ liệu, quỹ đầu tư mạo hiểm, các startup đổi mới sáng tạo cùng một môi trường pháp lý đủ linh hoạt để thử nghiệm công nghệ mới.

Thực tế trên thế giới cho thấy, các trung tâm công nghệ lớn đều phát triển dựa trên mối liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường và doanh nghiệp. Chính sự cộng hưởng này tạo nên khả năng hấp thụ công nghệ và sức hấp dẫn đối với các dự án FDI có hàm lượng tri thức cao.

Thứ ba, sẵn sàng trở thành đối tác: không ít doanh nghiệp trong nước mới chỉ tham gia cung cấp các dịch vụ phụ trợ như logistics, suất ăn công nghiệp, bao bì hay bảo vệ, trong khi giá trị gia tăng cao nhất vẫn nằm ở khâu thiết kế, nghiên cứu và sản xuất linh kiện cốt lõi.

Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam được kỳ vọng sẽ tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 40-50%.

Do đó, Nhà nước cần hiện thực hóa các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nội đổi mới công nghệ, đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, đẩy mạnh cơ chế khuyến khích doanh nghiệp FDI hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng trong nước.

Thành công của FDI sẽ được đo bằng số doanh nghiệp Việt được nâng cấp. Khi doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia, dòng vốn FDI mới thực sự để lại “di sản” là công nghệ, tri thức và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế.

Trương Khắc Trà