Tài chính doanh nghiệp
Rộng cửa vay vốn nước ngoài
Trong bối cảnh các kênh vốn ngày càng đa dạng nhưng nhu cầu quá cao và lại có nhiều rào cản tiếp cận, nguồn vốn vay nước ngoài sẽ rộng mở cho những doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu.

Khác với giai đoạn 2022–2024 có đặc trưng chi phí vốn quốc tế tăng mạnh do chu kỳ thắt chặt tiền tệ của FED, thì năm 2026 chứng kiến sự cải thiện rõ rệt về khả năng tiếp cận vốn. Cùng với đó là thay đổi tiêu chí thẩm định và mục đích dòng vốn. Hàng loạt thương vụ tiếp cận vay vốn ngoại đang cho thấy điều này.
Vay vốn ngoại với cấu trúc mới
Đối với ngân hàng, xu hướng vay nước ngoài hiện nay có thể thấy rất rõ ràng, không còn mang tính "giải cứu thanh khoản" như giai đoạn 2022–2023, mà chuyển sang phục vụ mở rộng đầu tư, chuyển đổi xanh và đa dạng nguồn vốn. Điều này đại diện sự thay đổi mang tính cấu trúc của thị trường vốn Việt Nam.
Điển hình, VPBank vừa ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững cùng 15 định chế tài chính quốc tế trị giá 1,44 tỷ USD. Hay như HDBank cũng đã ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức khoản vay xã hội trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu.
Như vậy, mục đích của các khoản vay khổng lồ đã được tái cấu trúc theo xu hướng chuyển dịch để hướng về phát triển bền vững của nền kinh tế, và phù hợp với xu hướng chuyển dịch của chính các dòng vốn đầu tư quốc tế, đầu tư ESG, không còn dừng lại ở khuôn khổ thuần túy vay “bổ sung vốn phục vụ kinh doanh” chung như trước đây.
Bên cạnh xu hướng tìm đến các khoản vay hợp vốn, tín dụng song phương hoặc nguồn vốn từ IFC, ADB, AIIB, JBIC, JICA và các ngân hàng phát triển, giúp các doanh nghiệp nói chung bao gồm ngân hàng giảm chi phí vốn, kéo dài kỳ hạn vay, đồng thời tận dụng được các chương trình tài trợ xanh hoặc tài trợ phát triển bền vững. Các doanh nghiệp như Phúc Sinh, Nafoods… cũng đã tiếp cận được những khoản vay/ tài trợ chi phí hấp dẫn để đầu tư kinh doanh xanh và phát triển vững từ các định chế khắt khe về tiêu chuẩn xanh từ Green, FMO… Trong khi đó, những khoản vay lớn từ các “ông lớn” như Vingroup, Masan… vẫn thuận lợi hút ngoại tệ về Việt Nam dựa trên kỳ vọng của các nhà đầu tư ngoại.
Thuận lợi và thách thức
Ở góc độ chính sách, bên cạnh kinh tế, chính trị và xã hội ổn định, môi trường kinh doanh đầy thuận lợi và mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số hậu thuẫn cho khả năng vay vốn nước ngoài của các doanh nghiệp. Đặc biệt, pháp lý cũng trở nên thuận lợi hơn. Từ năm 2026, Luật số 141/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công năm 2017 có hiệu lực theo hướng rút ngắn quy trình đàm phán, tăng phân cấp và đơn giản hóa thủ tục. Bên cạnh đó, Thông tư 17/2026/TT-NHNN cũng rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đăng ký khoản vay nước ngoài.
Tuy nhiên, sự thay đổi từ chính các tổ chức cho vay quốc tế trong thẩm định doanh nghiệp tiếp cận vốn vay, cũng được cho làm nên xu hướng tái cấu trúc, dịch chuyển dòng vốn đầu tư hướng về các ngân hàng có khả năng giải ngân tốt theo mục đích dòng vốn; cũng như sàng lọc để cho vay các doanh nghiệp có chất lượng quản trị tốt và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Saigon Ratings cho biết điều này khiến khoảng cách giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa trở nên rõ rệt hơn. Những tập đoàn có xếp hạng tín nhiệm hoặc báo cáo tài chính minh bạch vẫn tiếp cận vốn khá thuận lợi. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp quy mô trung bình gần như không thể vay trực tiếp mà vẫn phải thông qua ngân hàng trong nước.
Bên cạnh đó, còn nhiều yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp có thể lưu ý. Ông Nguyễn Hoàn Niên - Trưởng phòng cấp cao, Trung tâm Phân tích Chứng khoán Shinhan Việt Nam cho rằng đối với doanh nghiệp huy động vốn nước ngoài, họ phải xác định rõ và quan tâm đến nhu cầu vốn ngắn hạn hay dài hạn. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp có thể dựa vào diễn biến tỷ giá để cân nhắc các phương án vay vốn bằng USD.
“Với diễn biến tỷ giá trong năm 2026 và những chính sách hiện hành, có thể thấy tỷ giá sẽ được kiểm soát ở mức ổn định. Điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn như ngân hàng, chứng khoán, cùng với các doanh nghiệp quy mô lớn như Masan, tìm cách tiếp cận những nguồn vốn nước ngoài để có được mức lãi suất hấp dẫn hơn so với thị trường trong nước”, ông Niên nhận xét. Dù vậy, theo ông Niên, việc vay vốn dài hạn bằng USD ở nước ngoài sẽ có những rủi ro nhất định. Do đó, khi vay ngoại tệ, phải có kịch bản và phương án dự phòng với các biến động.
Ngoài ra, ông Niên khẳng định trong thời gian tới, việc phát triển trung tâm tài chính quốc tế cũng như việc một số ngân hàng đang muốn trở thành trung gian giới thiệu nhà đầu tư huy động vốn nước ngoài có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp phát hành ra thị trường quốc tế. Dù vậy, cần lưu ý hạ tầng gắn liền với kế hoạch sẽ cần có nhiều thay đổi lớn và cần thời gian.
Trong bối cảnh như vậy, triển vọng mở rộng cánh cửa vay vốn nước ngoài từ nay đến cuối năm 2026 của doanh nghiệp vẫn được đánh giá tương đối tích cực. Cơ hội huy động vốn quốc tế nhiều khả năng tiếp tục cải thiện nhờ môi trường lãi suất toàn cầu ổn định hơn, vị thế kinh tế Việt Nam được nâng lên và các cải cách pháp lý trong quản lý vay nước ngoài. Song, vốn quốc tế sẽ chỉ tập trung vào các doanh nghiệp đầu ngành, doanh nghiệp xuất khẩu, hạ tầng, năng lượng tái tạo, logistics, ngân hàng và các dự án chuyển đổi xanh. Trong khi đó, những doanh nghiệp quy mô nhỏ, thiếu minh bạch hoặc năng lực tài chính yếu sẽ khó tiếp cận.