Chính sách - Quy hoạch

Chính sách - Quy hoạch

Điều chỉnh quy hoạch đường sắt: Mở rộng không gian phát triển

Vi Anh 23/07/2026 04:48

Điều chỉnh quy hoạch đường sắt không chỉ mở rộng kết nối liên vùng mà còn tạo nền tảng phát triển logistics, đô thị và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bộ Xây dựng vừa có quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, quy hoạch cập nhật nhiều nội dung liên quan đến mạng lưới đường sắt quốc gia, đường sắt tốc độ cao và các tuyến kết nối liên vùng, hướng tới hình thành hệ thống giao thông đồng bộ giữa các hành lang kinh tế, cảng biển, cửa khẩu và khu công nghiệp.

Để TOD thực sự trở thành công cụ hỗ trợ mục tiêu an cư cần triển hai ba nhóm giải pháp gồm quy hoạch, cơ chế tài chính và quản lý đất đai.
Mạng lưới đường sắt đồng bộ được kỳ vọng tạo động lực phát triển đô thị và khai thác hiệu quả quỹ đất quanh các nhà ga.

Mở rộng không gian kết nối

Theo quy hoạch, mạng lưới đường sắt hiện có gồm 7 tuyến với tổng chiều dài khoảng 2.510 km. Đáng chú ý, tuyến Kép - Chí Linh được điều chỉnh thành Kép - Hạ Long - Cái Lân nhằm tăng cường kết nối với hệ thống cảng biển Quảng Ninh. Quy hoạch cũng cập nhật phạm vi, quy mô và lộ trình đầu tư đối với nhiều tuyến đường sắt quốc gia xây dựng mới, hệ thống ga đầu mối hành khách khu vực Hà Nội và định hướng đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao.

Đối với các tuyến xây dựng mới, quy hoạch xác định 16 tuyến khổ tiêu chuẩn 1.435 mm, trong đó ưu tiên triển khai các tuyến kết nối các hành lang kinh tế trọng điểm như Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái, Biên Hòa - Vũng Tàu và TP.HCM - Cần Thơ - Cà Mau. Hai tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và Hà Nội - Quảng Ninh tiếp tục được xác định là các dự án trọng điểm, góp phần từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông đường sắt hiện đại.

Việc điều chỉnh quy hoạch diễn ra trong bối cảnh nhiều dự án đường sắt quan trọng đang được đẩy nhanh công tác chuẩn bị đầu tư. Đây không chỉ là yêu cầu cập nhật quy hoạch để bảo đảm tính đồng bộ với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị, mà còn tạo nền tảng cho việc hình thành các hành lang vận tải mới, nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng và đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng.

Điểm đáng chú ý của lần điều chỉnh này không chỉ nằm ở việc bổ sung các tuyến đường sắt mới mà còn ở định hướng phát triển mạng lưới kết nối liên hoàn giữa các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển và cửa khẩu quốc tế.

Nếu trước đây đường sắt chủ yếu phục vụ vận tải hành khách hoặc kết nối từng khu vực thì quy hoạch mới ưu tiên phát triển các hành lang vận tải hàng hóa quy mô lớn, tạo điều kiện hình thành mạng lưới logistics đa phương thức. Các tuyến như Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái hay Mỹ Thủy - Lao Bảo được kỳ vọng tăng cường kết nối với cảng biển, cửa khẩu và thị trường khu vực, qua đó góp phần giảm chi phí logistics, nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Khi mạng lưới được hoàn thiện, vận tải đường sắt sẽ chia sẻ áp lực với đường bộ, đồng thời mở rộng không gian phát triển cho các hành lang kinh tế mới. Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy dòng chảy đầu tư, tăng cường liên kết vùng và phát huy hiệu quả của các trung tâm logistics, khu công nghiệp và cảng biển.

Tuy nhiên, quy hoạch chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi cùng cơ chế huy động nguồn lực phù hợp. Với nhu cầu vốn rất lớn cho các tuyến đường sắt quốc gia và đường sắt tốc độ cao, việc đa dạng hóa nguồn lực đầu tư sẽ là yếu tố quyết định tiến độ triển khai. Bên cạnh vốn đầu tư công, việc mở rộng hợp tác công - tư (PPP), thu hút vốn tư nhân, vốn ODA và các nguồn tài chính dài hạn được kỳ vọng sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, phát triển đường sắt gắn với khai thác quỹ đất và phát triển đô thị quanh nhà ga có thể tạo thêm nguồn lực để tái đầu tư hạ tầng. Đây cũng là hướng đi có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn trong giai đoạn tới.

Không chỉ tạo động lực cho hoạt động vận tải, quy hoạch mới còn mở ra dư địa đáng kể cho cộng đồng doanh nghiệp. Các dự án đường sắt quy mô lớn sẽ tạo nhu cầu đối với nhiều lĩnh vực như tư vấn thiết kế, xây lắp, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu, thiết bị, logistics và vận hành hạ tầng.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, ông Trần Đình Tùng - Chủ tịch Hội Kỹ sư Xây dựng Việt Nam (VCSE) cho biết, việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường sắt không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải mà còn tạo tiền đề hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt trong nước. Khi các dự án đường sắt quốc gia, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị được triển khai đồng thời, doanh nghiệp Việt sẽ có cơ hội tham gia sâu hơn vào các khâu tư vấn, thiết kế, thi công, sản xuất vật liệu, thiết bị và vận hành.

Theo ông, để tận dụng cơ hội này, doanh nghiệp cần được chuẩn bị từ sớm về nguồn nhân lực, năng lực công nghệ và khả năng làm chủ các tiêu chuẩn kỹ thuật. Chỉ khi từng bước hình thành hệ sinh thái năng lực cho ngành đường sắt, doanh nghiệp trong nước mới có thể nâng cao tỷ lệ tham gia vào chuỗi giá trị và gia tăng giá trị nội địa trong các dự án hạ tầng quy mô lớn.

Ở góc độ thị trường, mạng lưới đường sắt đồng bộ cũng được kỳ vọng tạo động lực mới cho bất động sản công nghiệp và hệ thống logistics. Khi các tuyến đường sắt kết nối trực tiếp với cảng biển, cửa khẩu và trung tâm sản xuất được hình thành, khả năng lưu chuyển hàng hóa sẽ được cải thiện, qua đó nâng cao sức hấp dẫn của các khu công nghiệp, trung tâm logistics và các địa phương nằm trên các hành lang vận tải.

Đồng bộ với phát triển đô thị

Bên cạnh tác động đối với vận tải và logistics, quy hoạch đường sắt cũng mở ra dư địa phát triển mới cho đô thị và thị trường bất động sản.

Việc ưu tiên đầu tư các tuyến đường sắt quốc gia và đường sắt tốc độ cao sẽ góp phần hình thành các cực tăng trưởng mới dọc các hành lang giao thông, đặc biệt tại các khu vực đầu mối và các nhà ga lớn. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, các khu vực này có điều kiện phát triển thương mại, dịch vụ, logistics, văn phòng và nhà ở, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.

TSKH.KTS Ngô Viết Nam Sơn - Chủ tịch NgoViet Architects & Planners cho rằng, hiệu quả của mạng lưới đường sắt không chỉ được đo bằng chiều dài tuyến hay tốc độ vận hành mà còn ở khả năng tái cấu trúc không gian đô thị. Đường sắt chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được phát triển đồng thời với quy hoạch đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), trong đó các khu vực quanh nhà ga trở thành trung tâm của các hoạt động thương mại, dịch vụ và không gian sống.

Đường sắt và TOD cần được xem là hai cấu phần bổ trợ cho nhau. Hạ tầng giao thông tạo động lực phát triển đô thị, trong khi việc khai thác hiệu quả quỹ đất quanh các nhà ga sẽ tạo thêm nguồn lực để tái đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư và phát huy giá trị đất đai trong dài hạn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu của quy hoạch cần bảo đảm sự đồng bộ giữa quy hoạch đường sắt với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị, khu công nghiệp và hệ thống logistics. Cùng với đó là việc hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực, thúc đẩy hợp tác công - tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành các dự án đường sắt.

Có thể thấy, việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ là bước hoàn thiện quy hoạch hạ tầng giao thông mà còn mở ra dư địa phát triển mới cho logistics, công nghiệp, đô thị và thị trường bất động sản.

Nếu được triển khai đồng bộ cùng cơ chế huy động vốn hiệu quả và quy hoạch phát triển đô thị phù hợp, mạng lưới đường sắt sẽ trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong nhiều thập kỷ tới.

Vi Anh