Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

PHÁT TRIỂN NGUYÊN LIỆU GỖ BỀN VỮNG: Ngành gỗ cần chuyển sang "cuộc chơi giá trị"

Bài: Thy Hằng - Ảnh: Quốc Tuấn 23/07/2026 16:36

Phát triển rừng gỗ lớn, không chỉ trồng nhiều rừng hơn mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi hecta rừng và mỗi mét khối gỗ, đồng thời hoàn thiện chuỗi giá trị bền vững là hướng đi tương lai của ngành gỗ Việt Nam.

Từ trái qua phải: Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch VCCI; Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Ông Ngô Sỹ Hoài - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.
Từ trái qua phải: Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch VCCI; Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Ông Ngô Sỹ Hoài - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.

Không thiếu sinh khối, nhưng thiếu gỗ lớn chất lượng cao

Chia sẻ tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu", do VCCI chỉ đạo, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức vào chiều ngày 23/7, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) nhận định, phát triển rừng gỗ lớn không chỉ nhằm tăng nguồn nguyên liệu cho chế biến sâu mà còn là chìa khóa để nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của toàn chuỗi ngành gỗ.

Theo đó, trong hơn ba mươi năm qua, Việt Nam đã phục hồi thành công độ che phủ rừng lên trên 42%, đồng thời xây dựng được ngành công nghiệp gỗ có vị thế nổi bật trên thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, theo ông Ngô Sỹ Hoài, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào rừng chu kỳ ngắn, gỗ nhỏ, chi phí thấp và xuất khẩu khối lượng lớn đang dần tiệm cận giới hạn.

Trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và lưu giữ carbon, phát triển rừng gỗ lớn cần trở thành định hướng chiến lược để nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp, bảo đảm nguyên liệu cho chế biến sâu và tăng năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam.

2aoboqmodpuzdfz68f6kbvqiwodgrdracq2wtsg8.jpg
Ông Ngô Sỹ Hoài nhận định, phát triển rừng gỗ lớn không chỉ nhằm tăng nguồn nguyên liệu cho chế biến sâu mà còn là chìa khóa để nâng cao giá trị gia tăng.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, sự phát triển của ngành lâm nghiệp trong hơn 30 năm qua được hình thành từ bốn động lực chính.

Thứ nhất, cải cách quyền sử dụng đất thông qua giao đất, giao rừng, đưa hộ gia đình trở thành chủ thể trực tiếp đầu tư và hưởng lợi từ rừng trồng. Thứ hai, động lực thị trường với sự phát triển nhanh của các nhà máy dăm gỗ từ đầu những năm 1990, tạo đầu ra ổn định cho gỗ rừng trồng.

Thứ ba, tiến bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt trong chọn giống và cải thiện giống, giúp cây keo trở thành loài cây chủ lực. Thứ tư, sự phát triển đồng thời của bốn nhóm sản phẩm gồm đồ gỗ, dăm gỗ, ván công nghiệp và viên nén gỗ, qua đó tận dụng tối đa sinh khối gỗ.

Nhờ những động lực này, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam năm 2025 đạt 17,2 tỷ USD.

Tuy nhiên, theo Tổng Thư ký VIFOREST, mô hình tạo nên thành công của ba mươi năm qua không đồng nghĩa với việc sẽ tiếp tục bảo đảm thành công trong ba mươi năm tới.

Theo đó, khi trước đây ngành gỗ tăng trưởng dựa trên nguyên liệu và lao động có chi phí cạnh tranh, thị trường tương đối dễ tính và khả năng mở rộng công suất, thì hiện nay những lợi thế này đang suy giảm nhanh. Ngược lại, chi phí lao động, đất đai, logistics và năng lượng đều tăng lên. Cùng với đó, các thị trường lớn không chỉ quan tâm đến giá cả và chất lượng mà còn đặt ra những yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về ESG, chứng chỉ rừng, truy xuất nguồn gốc, thẩm định chuỗi cung ứng, giảm phát thải carbon và chống mất rừng.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, nút thắt hiện nay không đơn thuần là thiếu gỗ về số lượng mà là thiếu nguồn cung gỗ lớn có chất lượng tốt, ổn định, hợp pháp và phù hợp cho chế biến sâu. Thực tế, phần lớn rừng trồng của hộ gia đình vẫn được khai thác trong chu kỳ 3-5 năm. Gỗ thu được chủ yếu phục vụ sản xuất dăm gỗ, bột giấy, viên nén hoặc một số loại ván công nghiệp, nhưng khó đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất đồ gỗ có giá trị cao.

Trong hơn ba mươi năm đổi mới, ngành gỗ Việt Nam đã viết nên một câu chuyện phát triến đầy tự hào
Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" thu hút sự quan tâm đông đảo của các đại biểu tới tham dự.

Theo ước tính của VIFOREST, tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho bốn nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2025 vào khoảng 59,5 triệu m³. Trong đó, dăm gỗ và viên nén chiếm tới 46,5 triệu m³, tương đương 78,1%; còn ván công nghiệp và đồ gỗ xuất khẩu chỉ chiếm 13 triệu m³, tương đương 21,9%. Điều này cho thấy ngành gỗ không thiếu sinh khối mà đang thiếu nguồn gỗ lớn có chất lượng cao phục vụ chế biến sâu.

Hệ quả là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn thiếu nguyên liệu chất lượng tốt và tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào gỗ nhập khẩu. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng rừng nguyên liệu nhìn chung chưa cao nếu tính trên mỗi hecta đất lâm nghiệp cũng như xét đến thời gian đầu tư, chi phí vốn và rủi ro thiên tai, sâu bệnh.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, việc người dân khai thác rừng sau 3-5 năm không phải vì họ từ chối phát triển gỗ lớn mà là phản ứng hợp lý trước tín hiệu của thị trường. Theo đó, đa số hộ trồng rừng có diện tích đất nhỏ và phân tán. Rừng là một trong số ít tài sản có thể chuyển thành tiền để trang trải chi phí sinh hoạt, học hành, chữa bệnh hoặc tái đầu tư. Nếu kéo dài chu kỳ lên 7-15 năm, người dân phải chấp nhận “chôn” vốn lâu hơn, đồng thời đối mặt với nhiều rủi ro như bão, cháy, sâu bệnh, gãy đổ và biến động thị trường. Trong khi đó, khả năng tiếp cận tín dụng dài hạn còn hạn chế, bảo hiểm rừng chưa phát triển và chênh lệch lợi nhuận giữa gỗ nhỏ và gỗ lớn chưa đủ rõ để bù đắp các rủi ro.

Bên cạnh đó, thị trường dăm gỗ vẫn có sức hấp dẫn nhờ tiêu thụ nhanh, yêu cầu kỹ thuật không phức tạp và hệ thống thu mua rộng. Theo Tổng Thư ký VIFOREST, để giải quyết bài toán này cần xử lý đồng thời bốn nhóm nguyên nhân gốc rễ, gồm đất đai phân tán và quy mô sản xuất nhỏ; hiệu quả kinh tế của gỗ lớn chưa đủ hấp dẫn; giống và kỹ thuật lâm sinh chưa đáp ứng chu kỳ dài; liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng rừng và hợp tác xã còn lỏng lẻo.

Một trong những chuyển đổi quan trọng nhất là thay đổi tư duy từ "trồng cây rồi khai thác" sang "quản lý rừng".

Theo đó, thay vì coi rừng như cây trồng ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh, mô hình quản lý rừng hướng tới quản lý rừng như một tài sản dài hạn, lựa chọn giống phù hợp, tối ưu mật độ trồng, thực hiện tỉa cành, tỉa thưa, quản lý sâu bệnh, bảo vệ đất và nước, quản lý carbon và khai thác theo mục tiêu chất lượng.

Người trồng rừng khi đó không chỉ bán sinh khối theo tấn mà còn có thể bán gỗ theo đường kính, chất lượng, chứng chỉ và khả năng chế biến.

2aoboqmopgbeml3tknhmv0nqgmkk6buvslmazdig.jpg
Diễn đàn thu hút nhiều chuyên gia, doanh nghiệp ngành gỗ tham dự.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, phát triển rừng gỗ lớn chỉ có thể thành công nếu người trồng rừng nhìn thấy lợi ích kinh tế rõ ràng và có khả năng quản trị rủi ro.

Do đó, cần xây dựng tín dụng xanh dài hạn phù hợp với chu kỳ rừng 7-15 năm; phát triển bảo hiểm rừng đối với bão, cháy, sâu bệnh và gãy đổ; hỗ trợ các mô hình "lấy ngắn nuôi dài" thông qua nông lâm kết hợp, tỉa thưa hoặc sinh kế dưới tán rừng.

Đồng thời, thị trường phải trả mức giá đủ cao cho gỗ lớn. Doanh nghiệp cần công bố tiêu chuẩn thu mua, bảng giá theo cấp đường kính, chất lượng và chứng chỉ, đồng thời thiết lập các hợp đồng bao tiêu dài hạn.

Chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang xuất khẩu giá trị

Theo VIFOREST, quy mô hộ nhỏ lẻ sẽ còn tồn tại trong ngắn hạn, vì vậy, hợp tác xã lâm nghiệp cần đóng vai trò tổ chức các hộ trồng rừng trong cùng vùng, thống nhất quy trình kỹ thuật, lập kế hoạch trồng và khai thác, thực hiện chứng chỉ theo nhóm và đàm phán hợp đồng với doanh nghiệp.

Trong khi đó, doanh nghiệp chế biến cần tham gia ngay từ đầu chuỗi thông qua góp vốn, cung cấp giống, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ chứng chỉ, đồng tài trợ bảo hiểm và cam kết thu mua gỗ theo chất lượng nhằm chia sẻ lợi ích và rủi ro với người trồng rừng.

Diễn đàn
Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức dưới sự chỉ đạo của VCCI, chiều 23/7.

Song song với đó, cần đầu tư phát triển bộ giống phù hợp cho chu kỳ dài, mở rộng chứng chỉ rừng và truy xuất nguồn gốc, đồng thời quy hoạch công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, ưu tiên các nhà máy cưa xẻ, sấy, ghép thanh, ván và đồ gỗ tại miền Trung và miền núi phía Bắc.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, mô hình tăng trưởng tương lai của ngành gỗ Việt Nam phải chuyển từ lượng sang chất, từ nguyên liệu sang sản phẩm, từ gia công sang thiết kế và thương hiệu.

Thành công của ngành không chỉ được đo bằng sản lượng khai thác mà còn bằng giá trị trên mỗi hecta rừng, giá trị trên mỗi mét khối gỗ, tỷ lệ chế biến sâu, tỷ lệ nguyên liệu có chứng chỉ, mức độ tự chủ nguyên liệu, lượng carbon lưu giữ và thu nhập của người trồng rừng.

Theo đó, năm hành động ưu tiên được VIFOREST đề xuất gồm: chuyển từ "forest cropping" (canh tác rừng) sang "forest management" (quản lý rừng); xây dựng cơ chế thị trường để gỗ lớn có lợi nhuận vượt trội so với gỗ nhỏ; phát triển liên kết chuỗi giữa chủ rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến; đầu tư vào giống, chứng chỉ rừng, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số; định vị lại ngành lâm nghiệp từ cung cấp sinh khối sang vật liệu xanh, lưu trữ carbon và giá trị gia tăng cao.

Đặc biệt, ông Ngô Sỹ Hoài cho rằng, Việt Nam đã thành công trong phục hồi rừng, nhưng giai đoạn tiếp theo cần thành công trong nâng cấp chất lượng rừng; đã thành công trong xuất khẩu thì cần thành công trong xuất khẩu giá trị; đã thành công trong tạo sinh khối thì cần thành công trong tạo giá trị gia tăng; đồng thời chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Theo ông, ba mươi năm tới, thước đo thành công của ngành gỗ phải là giá trị tạo ra từ mỗi hecta rừng, mỗi mét khối gỗ, thu nhập của người trồng rừng và mức độ bền vững của toàn bộ chuỗi giá trị. Việt Nam không thiếu rừng trồng, điều còn thiếu là một cơ chế đủ mạnh để biến rừng trồng thành nguồn nguyên liệu gỗ lớn, chất lượng cao cho chế biến sâu và đưa ngành công nghiệp gỗ Việt Nam bước lên một nấc thang phát triển mới.

Bài: Thy Hằng - Ảnh: Quốc Tuấn