Nghiên cứu - Trao đổi
Cần làm rõ quy định xử phạt vi phạm về cung cấp thông tin thuế
Nhiều ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ nhiều quy định liên quan đến xử phạt hành vi cung cấp thông tin phục vụ trao đổi thông tin về thuế, bảo đảm tính minh bạch và khả thi trong quá trình thực thi.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế về minh bạch thuế và trao đổi thông tin nhằm phòng, chống trốn thuế, chuyển lợi nhuận và nâng cao hiệu quả quản lý thuế, việc hoàn thiện khung pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn được xem là yêu cầu cấp thiết.

Góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 102/2021/NĐ-CP, Nghị định 310/2025/NĐ-CP (Dự thảo) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng một số quy định mới liên quan đến xử phạt hành vi cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin quốc tế về thuế vẫn còn chưa rõ ràng, có thể gây khó khăn trong quá trình áp dụng, cần cụ thể hóa các hành vi vi phạm và bảo đảm tính minh bạch, thống nhất của quy định.
Đối với khoản 1 Điều 19a của Dự thảo quy định xử phạt hành vi cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế quá thời hạn từ 5 ngày trở lên, VCCI cho rằng quy định chưa làm rõ thời hạn này được tính từ thời điểm phải cung cấp thông tin theo yêu cầu ban đầu hay từ thời điểm hết thời hạn được gia hạn.
Theo VCCI, tại điểm a khoản 3 Điều 19a, Dự thảo lại xác định thời hạn theo hai mốc khác nhau là "thời hạn phải cung cấp thông tin" hoặc "kể từ ngày hết thời hạn gia hạn cung cấp thông tin". Việc thiếu thống nhất này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Vì vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ để bảo đảm tính minh bạch và tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh đó, VCCI cũng góp ý đối với điểm b khoản 3 Điều 19a quy định mức phạt từ 50-100 triệu đồng đối với hành vi "thông đồng, bao che người nộp thuế nhằm ngăn cản cơ quan thuế thu thập, xác minh thông tin".
Theo VCCI, Dự thảo chưa giải thích hoặc mô tả cụ thể thế nào là hành vi "thông đồng", "bao che", do đó khó xác định căn cứ xử phạt trên thực tế. Để bảo đảm tính khả thi, cơ quan soạn thảo cần sửa đổi theo hướng mô tả cụ thể các hành vi vi phạm.

Ngoài ra, VCCI cũng đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ việc tiếp thu khuyến nghị của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin phục vụ mục đích thuế. Theo thuyết minh của Dự thảo, Diễn đàn toàn cầu khuyến nghị Việt Nam bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi tiết lộ yêu cầu trao đổi thông tin cho bên thứ ba khi thực hiện cung cấp thông tin cho cơ quan thuế. Tuy nhiên, VCCI cho rằng nội dung này chưa được thể hiện rõ trong Điều 19a của Dự thảo, vì vậy cần có giải trình cụ thể để bảo đảm việc sửa đổi đáp ứng đúng các khuyến nghị quốc tế.
Đồng tình với những góp ý của VCCI, TS Nguyễn Thị Cẩm Giang - Giảng viên Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng cho rằng việc sửa đổi Nghị định số 125/2020/NĐ-CP không chỉ nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế mà còn phải tạo được sự yên tâm cho doanh nghiệp trong quá trình tuân thủ pháp luật.
Theo TS Nguyễn Thị Cẩm Giang, trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào cơ chế trao đổi thông tin thuế quốc tế, việc bổ sung chế tài là cần thiết. Tuy nhiên, chế tài chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có thể nhận diện rõ nghĩa vụ của mình và biết được ranh giới giữa hành vi vi phạm với những sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện.
"Pháp luật về xử phạt hành chính không chỉ có chức năng răn đe mà còn phải định hướng hành vi tuân thủ. Nếu quy định còn mang tính khái quát hoặc chưa lượng hóa rõ trách nhiệm thì doanh nghiệp sẽ có tâm lý e ngại, nhất là các tổ chức tài chính, đơn vị lưu giữ thông tin khi thực hiện yêu cầu cung cấp dữ liệu cho cơ quan thuế", chuyên gia này nhận định.
Theo chuyên gia, đối với các hành vi bị xử phạt, cơ quan soạn thảo cần xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ cũng như thời điểm tính vi phạm, tránh để nhiều cách hiểu khác nhau giữa cơ quan quản lý và đối tượng thực hiện. Điều này không chỉ bảo đảm quyền lợi của người nộp thuế mà còn giúp hạn chế tranh chấp trong quá trình áp dụng pháp luật.