Tài chính doanh nghiệp
Quý II: Masan lãi 3.800 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay, gấp hơn 2,3 lần cùng kỳ
Nhờ hệ điều hành tiêu dùng và MSR, Masan lãi quý II/2026 kỷ lục, nâng mục tiêu lợi nhuận cả năm 2026.
Thông tin được Ban Điều hành CTCP Tập đoàn Masan (HoSE: MSN) công bố sau khi công bố kết quả kinh doanh chưa kiểm toán.
Đại Kết Nối: Khi thương hiệu, bán lẻ và số hóa cùng tạo nên sức mạnh tăng trưởng
Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan ghi nhận lợi nhuận cao kỷ lục, với lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Pre-MI) trong quý II và 6 tháng đầu năm lần lượt đạt 3.800 tỷ đồng và 5.773 tỷ đồng, tương ứng gấp 2,3 lần và 2,2 lần so với cùng kỳ. Trong 6 tháng đầu năm, lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Post-MI) đạt 4.371 tỷ đồng, gấp 3,0 lần cùng kỳ. Doanh thu thuần quý II/2026 đạt 28.118 tỷ đồng, tăng 53,5%.

Dựa trên kết quả đã đạt được và đà tăng trưởng dự kiến tiếp tục trong nửa cuối năm, Masan đề xuất nâng kế hoạch năm 2026 lên 98.000–105.000 tỷ đồng doanh thu và 10.000–11.500 tỷ đồng NPAT Pre-MI. Theo đó, lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Post-MI) dự kiến đạt khoảng 8.000 tỷ đồng, gấp khoảng 2,0 lần so với năm trước.
Hệ điều hành Tiêu dùng (Consumer Operating System – cOS) kết nối các Nền tảng Bán lẻ, Thương hiệu và Số hóa, giúp Masan gia tăng giá trị trên toàn chuỗi tiêu dùng. Trong quý II, cOS ghi nhận doanh thu 20.059 tỷ đồng, tăng khoảng 21% so với cùng kỳ; NPAT Pre-MI đạt 3.356 tỷ đồng, tăng 26,2%. Khi mỗi mảng kinh doanh đều có khả năng tự tài trợ cho tăng trưởng và bắt đầu đóng góp dòng tiền về Tập đoàn, Masan sẽ ưu tiên sử dụng dòng tiền tự do để giảm đòn bẩy, tái đầu tư và mở rộng dư địa chi trả cổ tức cũng như mua lại cổ phiếu trong thời gian tới.
Nền tảng bán lẻ: Tăng trưởng quy mô đi cùng lợi nhuận
Tại kênh bán lẻ hiện đại, WinCommerce (WCM), công ty vận hành chuỗi bán lẻ WinMart/WinMart+/WiN, nền tảng bán lẻ của Masan, ghi nhận doanh thu quý II/2026 đạt 11.629 tỷ đồng, tăng 27,4% so với cùng kỳ; NPAT Pre-MI đạt 142 tỷ đồng, tăng gấp 14 lần. Tăng trưởng doanh thu 6 tháng đầu năm vượt ngưỡng cao trong kế hoạch cả năm, với đà tăng trưởng được kỳ vọng tiếp tục trong nửa cuối năm, giai đoạn có yếu tố mùa vụ thuận lợi hơn.
Mở rộng gắn liền với hiệu quả: WCM mở mới thuần 324 cửa hàng trong quý II/2026, nâng tổng số cửa hàng trên toàn quốc lên 5.141, bám sát mục tiêu mở mới từ 1.000–1.500 cửa hàng trong cả năm. Hơn 90% số cửa hàng mở mới trong quý đã đạt điểm hòa vốn EBITDA ở cấp độ cửa hàng ngay trong quý.
Tăng trưởng trên cùng cửa hàng được dẫn dắt bởi lưu lượng khách: Mô hình minimart ghi nhận tăng trưởng LFL 12,4%, đánh dấu quý thứ tám liên tiếp duy trì mức tăng trưởng hai chữ số. Mô hình siêu thị đạt tăng trưởng LFL 16,3%, nhờ chương trình nâng cấp cửa hàng và năng suất điểm bán được cải thiện.
Minimart nông thôn tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực: Doanh thu trung bình ngày (ADS) của minimart nông thôn đã đạt khoảng 90% mức của minimart đô thị, cho thấy khả năng mở rộng hiệu quả của mô hình tại những thị trường còn nhiều dư địa.
Khả năng sinh lời tiếp tục cải thiện: Biên lợi nhuận ròng quý II tăng 110 điểm cơ bản so với cùng kỳ, đạt 1,2%, nhờ hiệu quả quy mô và kỷ luật chi phí.
Trong lĩnh vực bán lẻ F&B, Phúc Long Heritage (PLH) tiếp tục nhân rộng công thức tăng trưởng của Nền tảng Bán lẻ, ghi nhận doanh thu quý II/2026 đạt 550 tỷ đồng, tăng 26,9% so với cùng kỳ. PLH mở mới 15 cửa hàng tiêu chuẩn trong quý, nâng tổng số cửa hàng độc lập trên toàn quốc lên 220, không bao gồm các kiosk trong hệ thống WCM. Doanh nghiệp đang bám sát mục tiêu mở mới từ 40–50 cửa hàng trong năm 2026, với phần lớn số cửa hàng dự kiến được mở trong nửa cuối năm.
Masan Consumer (HOSE: MCH) ghi nhận doanh thu quý II/2026 đạt 7.165 tỷ đồng, tăng 14,2% so với cùng kỳ và bám sát kế hoạch cả năm 2026. Tăng trưởng chủ yếu được dẫn dắt bởi sản lượng, tăng 12,5%, cho thấy nhu cầu tiêu dùng nền tảng duy trì vững chắc sau khi MCH hoàn tất quá trình chuyển đổi hệ thống phân phối trong năm 2025. Tăng trưởng đến từ ba động lực:
Cao cấp hóa danh mục, được dẫn dắt bởi CHIN-SU. MCH đã mở rộng thị phần, với sự phục hồi của Nam Ngư; Kokomi duy trì vững chắc; và ngành hàng Đồ uống đóng chai quay trở lại tăng trưởng, đạt 17,8%.
Các động lực tăng trưởng mới, trong đó ngành hàng Hóa mỹ phẩm (HPC) tăng 32,5% so với cùng kỳ. Mảng Kinh doanh Quốc tế cũng ghi nhận mức tăng trưởng 24,0%.
Tổng doanh thu của MML qua hệ thống WCM tăng 30,5% so với cùng kỳ. Doanh thu trung bình ngày trên mỗi cửa hàng WCM hiện hữu đạt 2,6 triệu đồng, tăng 18,9%, phản ánh hiệu quả khai thác mạng lưới ngày càng cao. Heo Cao Bồi tăng trưởng 21,2% và Ponnie tăng 45,5% so với cùng kỳ. Doanh thu từ các sản phẩm đổi mới đóng góp 37,5% doanh thu sản phẩm có thương hiệu, cho thấy các sản phẩm mới đang từng bước trở thành động lực tăng trưởng bền vững.
Công cụ đánh giá vị trí đang chuyển mình từ một nền tảng dữ liệu thành nền tảng vận hành phục vụ mở rộng mạng lưới cửa hàng. Công cụ này không chỉ xác định địa điểm mở mới phù hợp mà còn quản lý toàn bộ quy trình mở cửa hàng từ đầu đến cuối.
Công cụ đánh giá sản phẩm đã được kiểm chứng tại MEATDeli, giúp doanh thu tăng 4%. Kết quả này hiện đang được nhân rộng thành mô hình tự động xây dựng danh mục hàng hóa trên toàn mạng lưới.
WiNARE đặt mục tiêu hoàn tất giai đoạn đầu tiên trong quý III/2026, đưa 90% giá trị đơn hàng lên hệ thống đặt hàng tập trung và số hóa. Mỗi 10% gia tăng tỷ lệ đặt hàng tự động mang lại khoản tiết kiệm khoảng 100 tỷ đồng mỗi năm. Trong 12 tháng tiếp theo, trọng tâm sẽ chuyển sang tối ưu vận hành, bao gồm giảm số ngày tồn kho và tỷ lệ hao hụt hàng hóa.
MSR ghi nhận bước tiến mạnh mẽ về lợi nhuận trong quý II/2026, với doanh thu đạt 8.138 tỷ đồng, tăng gấp 5,0 lần so với cùng kỳ; NPAT Pre-MI đạt 1.666 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 6 tỷ đồng trong quý II/2025. Kết quả được thúc đẩy bởi giá APT bình quân trong quý II đạt 3.245 USD/mtu, cao hơn gấp đôi so với kịch bản kế hoạch ban đầu được trình tại Đại hội đồng Cổ đông, cùng hiệu quả vận hành được cải thiện.

Vonfram dẫn dắt đà tăng giá của nhóm vật liệu thiết yếu phục vụ AI: Việc mở rộng hạ tầng AI, gia tăng công suất bán dẫn và đầu tư vào các chương trình quốc phòng đã đưa giá APT bình quân quý II lên 3.245 USD/mtu. Đây là nền tảng tăng trưởng dài hạn của MSR, dựa trên vai trò của doanh nghiệp trong việc cung cấp nguồn vonfram an toàn ngoài Trung Quốc, thay vì chỉ phụ thuộc vào biến động giá hàng hóa.
Quá trình giảm đòn bẩy đang tăng tốc: Tỷ lệ nợ ròng/EBITDA của MSR dự kiến giảm từ 2,1 lần trong quý II/2026 xuống khoảng 1,7 lần vào cuối năm 2026 và tiến tới trạng thái tiền mặt ròng vào cuối năm 2027. Điều này sẽ giúp giảm chi phí lãi vay, nâng cao chất lượng lợi nhuận và mở ra khả năng bắt đầu chi trả cổ tức từ năm 2027.
Chính sách thuế tạo đà tích cực: Việc giảm thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm fluorit và bismuth dự kiến giúp MSR tăng thêm khoảng 2,5 triệu USD lợi nhuận trong nửa cuối năm 2026, tương đương khoảng 5,0 triệu USD nếu tính trên cơ sở cả năm.
Trong quý II/2026, MSR đã công bố những bước tiến trong kế hoạch bổ sung tiềm năng khoảng 115 triệu tấn tài nguyên tại khu vực Núi Pháo mở rộng và Núi Chiếm. Nếu được các cơ quan quản lý phê duyệt, nguồn tài nguyên này có thể kéo dài thêm khoảng 20–30 năm hoạt động khai thác và chế biến.
Song song đó, quan hệ hợp tác với GBI bổ sung nguồn nguyên liệu từ đối tác đã được cam kết, hỗ trợ kế hoạch nâng công suất sản xuất oxit vonfram lên hơn 8.000 tấn WO₃.
Những bước tiến này tiếp tục khẳng định vị thế của MSR là một trong số ít nền tảng chế biến vonfram quy mô lớn ngoài Trung Quốc, đồng thời mở rộng vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược toàn cầu.