Tài chính số
Rà soát phí, lãi suất thẻ và các giải pháp an toàn hoạt động thẻ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước sẽ nghiên cứu giải pháp ngăn ngừa việc bóc tách chip khỏi phôi thẻ vật lý để ứng phó thực trạng có trường hợp lợi dụng kẽ hở, thực hiện bóc tách, đánh tráo chip trên thẻ vật lý và tiến hành gắn chip này vào các phôi thẻ khác.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán thực hiện một số nhiệm vụ nhằm tăng cường an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán nói chung và hoạt động thẻ nói riêng.
Yêu cầu rà soát cung ứng dịch vụ thanh toán theo đối tượng
Theo văn bản, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán nghiêm túc triển khai:

Thứ nhất, rà soát việc tổ chức nước ngoài cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng là người không cư trú và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam để thực hiện giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam phải đảm bảo việc tuân thủ quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 52.
Theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 52: Tổ chức nước ngoài cung ứng địch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng là người không cư trú và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam để thực hiện giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam phải thực hiện thông qua ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được NHNN nước chấp thuận tham gia hệ thống thanh toán quốc tế của tổ chức nước ngoài đó.”
Thứ hai, thực hiện các biện pháp truyền thông, cảnh báo tới khách hàng tình trạng bóc tách, đánh tráo chip để khách hàng có biện pháp sử dụng thẻ an toàn.
Thứ ba, nghiên cứu giải pháp ngăn ngừa việc bóc tách chip khỏi phôi thẻ vật lý.
Thực tế, thời gian gần đây, một số đối tượng lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của khách hàng khi sử dụng thẻ ngân hàng để thanh toán tại đơn vị chấp nhận thẻ (như nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ,…) thực hiện bóc tách, đánh tráo chip trên thẻ vật lý và tiến hành gắn chip này vào các phôi thẻ khác. Các đối tượng sử dụng thẻ giả lập này để thực hiện các giao dịch nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Thứ tư, thực hiện kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ hoạt động thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thanh toán (ĐVCNTT) để phòng ngừa và kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi lợi dụng thanh toán tại các ĐVCNTT cho các mục đích bất hợp pháp; yêu cầu các ĐVCNTT đối chiếu đầy đủ thông tin trên thẻ để đảm bảo trùng khớp giữa người thực hiện giao dịch và chủ thẻ.
Thứ năm, NHNN cũng yêu cầu thực hiện rà soát thông tin in trên thẻ vật lý đảm bảo tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 45/2025/TT-NHNN ngày 19/11/2025).
Yêu cầu các TCTD rà soát phí, lãi suất với thẻ tín dụng
Đáng chú ý, với nội dung thứ sáu, NHNN rà soát đảm bảo các loại phí, lãi suất, phương pháp tính lãi đối với từng loại thẻ phát hành tuân thủ đúng quy định của NHNN và pháp luật liên quan; đồng thời phải công khai minh bạch, cung cấp đầy đủ thông tin và có biện pháp đảm bảo khách hàng đã nắm được các thông tin về quyền và nghĩa vụ của khách hàng, các loại phí, lãi suất, phương pháp tính lãi (đặc biệt là với thẻ tín dụng) và những thay đổi (nếu có) trong quá trình khách hàng sử dụng thẻ.
Trước đó, nhằm triển khai Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia”, ngày 23/7/2026, NHNN đã ban hành Kế hoạch triển khai Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia” tại NHNN.
Kế hoạch được triển khai với mục đích cụ thể hóa và tổ chức triển khai kịp thời, nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Đề án nhằm nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng trong ngành Ngân hàng. Đồng thời phát triển lực lượng bảo vệ an ninh mạng tại NHNN và các tổ chức trong ngành Ngân hàng, tạo nền tảng sức mạnh tổng thể bảo vệ chủ quyền số và an ninh quốc gia trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
Kế hoạch đặt ra yêu cầu: Phân công nhiệm vụ cụ thể bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Tổ chức triển khai quyết liệt, thực chất, có sản phẩm đầu ra cụ thể, thiết thực và hiệu quả; Tập trung nguồn lực, nâng cao năng lực của lực lượng an ninh mạng tại các đơn vị trong ngành Ngân hàng. Từ đó, chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó hiệu quả từ sớm, từ xa với các nguy cơ, thách thức trong công tác bảo đảm an ninh mạng; Gắn kết chặt chẽ công tác nâng cao năng lực của lực lượng bảo vệ an ninh mạng với chiến lược chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển hạ tầng dữ liệu số của ngành Ngân hàng.
Liên quan đến giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) nói chung, NHNN thông tin, TTKDTM tiếp tục đạt những kết quả tích cực góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số. Trong 5 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch TTKDTM tăng 34,77% về số lượng và tăng 11,48% về giá trị; qua kênh Internet tăng 52,82% về số lượng và tăng 24,61% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 33,60% về số lượng và tăng 1,66% về giá trị; qua QR code tăng 10,37% về số lượng và tăng 39,97% về giá trị.
Đối với giao dịch trên nền tảng số và phi vật lý, theo ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN, kỷ nguyên AI mang đến nhiều cơ hội để thúc đẩy các loại hình/ kênh giao dịch nhưng đồng thời cũng mang đến những thách thức khi gian lận diễn ra tinh vi, có tổ chức và lan rộng rất nhanh. Tội phạm công nghệ cao hiện nay không chỉ tấn công hệ thống ngân hàng mà chủ yếu thao túng người dùng (social engineering), sử dụng deepfake, giả mạo giọng nói, phishing và sử dụng tài khoản rác (tài khoản mule) để lừa đảo. Thanh toán số càng phát triển thì: rủi ro lừa đảo trực tuyến, đánh cắp dữ liệu, deepfake, tài khoản giả mạo, tấn công AI, phụ thuộc nền tảng công nghệ càng gia tăng.
Do đó, ông khẳng định kiến tạo thể chế cho thanh toán thông minh không chỉ là chuẩn bị cho tương lai của ngành ngân hàng, mà chính là chuẩn bị hạ tầng cho tương lai của nền kinh tế số Việt Nam. Đích đến cuối cùng là: Thanh toán số an toàn – Ngân hàng số thông minh – Kinh tế số bao trùm.