Kinh tế địa phương
An Giang phát triển dữ liệu số hóa phục vụ quản trị hành chính công
An Giang là một trong những tỉnh ở khu vực ĐBSCL đi đầu trong quản trị hành chính công dựa trên “dữ liệu số hóa, theo mục tiêu, sản phẩm, tiến độ, kết quả đầu ra”, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống quản trị số hóa ở địa phương.
Phóng viên Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp vừa có buổi trao đổi và tìm hiểu rõ thêm về kết quả số hóa trong công tác quản trị hành chính công ở địa phương với ông Võ Minh Trung - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang.

- Với kết quả Bộ chỉ số đánh giá dịch vụ công trực tuyến của Chính phủ, tính đến ngày 26/5/2026 tỉnh An Giang xếp loại xuất sắc và xếp 16/34 tỉnh/thành trên cả nước. Theo ông, điều kiện tiên quyết nào để có sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ở địa phương ?
So sánh với đầu năm 2026 và thời điểm ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW vào cuối năm 2024, chuyển biến rõ nét nhất là từ giai đoạn “chỉ đạo theo văn bản, cuộc họp” sang “điều hành dựa trên dữ liệu, theo mục tiêu, sản phẩm, tiến độ, kết quả đầu ra”. Để làm được việc này hệ thống hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số đã được quan tâm đầu tư, từng bước hoàn thiện; các hệ thống thông tin quan trọng được vận hành thông suốt, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Kinh tế số, xã hội số có bước phát triển, từng bước trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng; ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, cải thiện năng suất, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở địa phương và tăng trưởng kinh tế GRDP đạt 8,18%.
Đáng kể nhất là kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các nghiên cứu cơ bản/ứng dụng như: Quản lý thực hiện 68 nhiệm vụ, trong đó 55 nhiệm vụ cấp tỉnh và 13 nhiệm vụ cấp cơ sở. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thực hiện xác định danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ thực hiện năm 2026 với 19 nhiệm vụ cấp tỉnh và 10 nhiệm vụ cấp cơ sở; tổ chức tuyển chọn đơn vị chủ trì, chủ nhiệm đối với 6 nhiệm vụ cấp tỉnh. Đồng thời thực hiện đánh giá, nghiệm thu 11 nhiệm vụ cấp tỉnh, cấp cơ sở.
Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cấp tỉnh và cấp cơ sở, thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả nổi bật, đóng góp tích cực vào đa dạng các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở địa phương. Đơn cử như xây dựng và thử nghiệm thành công hệ thống phần mềm WebGIS tích hợp BIM - GIS cho phép tra cứu mô hình theo vị trí không gian, cập nhật thông tin vận hành, theo dõi bảo trì và hỗ trợ ra quyết định trong công tác quản lý tài sản hạ tầng cấp tỉnh.
- Ông có thể cho biết những kết quả lan tỏa của nhiệm vụ chuyển đổi số tác động đến công tác quản trị hành chính công như thế nào ?
Tính đến nay, tỉnh An Giang đã tổng hợp đề xuất theo nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Nghị quyết 57-NQ/TW) đã tiếp nhận 717 đề xuất từ 16 Sở ngành, 12 Viện - Trường và 85/102 đơn vị hành chính cấp xã, phường, đặc khu. Qua quá trình rà soát, đối chiếu đã phân loại được 199 đề xuất để đưa vào danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ. Đây là các đề xuất bám sát định hướng theo Nghị quyết 57 như: tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, AI, IoT, Big Data, GIS, số hóa dữ liệu, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, y tế dự phòng và xây dựng nền tảng số phục vụ quản lý, điều hành…
Riêng về việc phát triển kinh tế dữ liệu, tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định phê duyệt Chiến lược dữ liệu của tỉnh An Giang (Quyết định số 2805/QB-UBND ngày 31/12/2025 của UBND tỉnh An Giang); Kế hoạch Phát triển dữ liệu phục vụ Chính quyền số tỉnh An Giang giai đoạn 2026 - 2027; Khung kiến trúc số tỉnh An Giang; triển khai dự án Cổng dữ liệu số tỉnh An Giang, bao gồm: Kho dữ liệu dùng chung của tỉnh và nền tảng tích hợp, tổng hợp và phân tích dữ liệu phục vụ Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC), đang hoàn thiện các phân hệ chức năng, kiểm tra kết nối dữ liệu và chuẩn hóa danh mục dữ liệu trước khi đưa vào vận hành chính thức.
Thời gian qua tỉnh An Giang đã nâng cấp, hoàn thiện các hệ thống thông tin dùng chung trong các cơ quan Đảng với hệ thống điều hành tác nghiệp, hệ thống theodoinq.dcs.vn, hệ thống xác thực chữ ký số chuyên dùng... Đáng kể nhất là việc triển khai Trí tuệ nhân tạo (AI - First), tỉnh đang triển khai thí điểm một số ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong điều hành và thực thi công vụ. Tất cả nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng, hiệu suất xử lý, tốc độ phản hồi của các hệ thống, hỗ trợ tốt hơn cho quá trình tác nghiệp của cán bộ công chức.
Tuy nhiên, tỉnh cũng đang tiếp tục khẩn trương sớm hoàn thành tích hợp, vận hành thử Thủ tục hành chính chưa cung cấp Dịch vụ công trực tuyến theo chỉ đạo của Trung ương về vận hành hệ thống tập trung của Bộ. Tỉnh cũng đang ưu tiên tái cấu trúc quy trình, chuẩn hóa biểu mẫu điện tử đối với nhóm thủ tục phát sinh nhiều hồ sơ… nhằm gia tăng tỷ lệ toàn trình trên thực tế.

- Để gia tăng tỷ lệ toàn trình trên thực tế và vận hành trên hệ thống tập trung của cơ quan bộ, theo ông đâu là những điểm nghẽn cốt lõi và cần tháo gỡ?
Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh An Giang vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: Hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin mặc dù cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhưng nhiều nơi bị xuống cấp, thiếu đồng bộ, cần tiếp tục đầu tư, thay thế. Việc liên thông, tích hợp, đồng bộ dữ liệu giữa hệ thống của bộ, ngành với Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh có thời điểm chưa kịp thời, chưa đầy đủ; một số trạng thái hồ sơ, dữ liệu số hóa, thông tin thanh toán, kết quả giải quyết chưa được cập nhật chính xác. Từ đó ảnh hưởng đến công tác thống kê, theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ và kết quả đánh giá theo Bộ chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trở ngại đáng kể hiện nay là sau khi Cổng Dịch vụ công quốc gia được chuyển sang vận hành tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia, thì địa phương chưa được cung cấp đầy đủ công cụ, chức năng, báo cáo hoặc nguồn dữ liệu phục vụ theo dõi, đánh giá Bộ chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp theo Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 23/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, các chức năng thống kê, tổng hợp, đánh giá, xếp hạng và theo dõi kết quả thực hiện các chỉ tiêu nêu trên hiện chưa được công khai đầy đủ trên hệ thống mới.
Vấn đề nan giải là nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa được đồng bộ giữa các ngành, địa phương. Nhiều nơi thiếu nhân lực chuyên trách, đặc biệt là nhân lực có chuyên môn sâu về công nghệ thông tin, công nghệ số, an toàn thông tin. Theo đó, tình trạng kiêm nhiệm, thiếu đào tạo chuyên môn còn phổ biến, nhất là tại một số Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã. Một trong những nguyên nhân về nguồn nhân lực là hiện tại chưa triển khai áp dụng chính sách (Nghị định số 179/2025/NĐ-CP) quy định về mức hỗ trợ cho người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng trong các cơ quan đảng… Điều này làm hạn chế thu hút được nguồn lực chất lượng, có chuyên môn, giữ chân cán bộ có năng lực, công tác tốt về chuyển đổi số nói riêng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo nói chung.
- Trân trọng cảm ơn ông!