Nghiên cứu - Trao đổi
Gỡ nút thắt mã số vùng trồng: Cơ hội nào cho nông sản xuất khẩu?
Đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được kỳ vọng tạo thuận lợi hơn cho xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của cơ chế hậu kiểm.
Đối với nhiều thị trường nhập khẩu, mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là điều kiện bắt buộc để nông sản được phép lưu thông. Vì vậy, mỗi thay đổi trong cơ chế cấp và quản lý mã số đều tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp và người sản xuất.

Từ thực tế đó, Chính phủ vừa ban hành nghị quyết về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, đồng thời điều chỉnh một số quy định của Nghị định số 38/2026/NĐ-CP.
Theo nghị quyết, việc cấp và quản lý mã số sẽ được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm, giảm thời gian giải quyết và chi phí tuân thủ. Hồ sơ được tiếp nhận thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đối với trường hợp xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu về mã số vùng trồng, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức kiểm tra và thông báo cấp mã trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối, nêu rõ lý do.
Một điểm đáng chú ý là nghị quyết tạm ngừng áp dụng quy định diện tích tối thiểu 10 ha đối với vùng trồng được cấp mã. Thay đổi này mở thêm cơ hội cho nhiều hợp tác xã, vùng nguyên liệu quy mô nhỏ và các hộ sản xuất liên kết tham gia chuỗi xuất khẩu nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh việc cắt giảm thủ tục, nghị quyết vẫn yêu cầu việc cấp mã gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm. Tiền kiểm chỉ áp dụng trong trường hợp thị trường nhập khẩu có yêu cầu.
Trao đổi với phóng viên, Luật sư Nguyễn Thanh Phong, Trưởng chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ, cho rằng việc đơn giản hóa thủ tục là bước điều chỉnh phù hợp trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu nông sản đòi hỏi tốc độ và khả năng thích ứng ngày càng cao.
Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, việc thực hiện thủ tục trên môi trường mạng, rút ngắn thời gian giải quyết và phân cấp mạnh hơn cho địa phương sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất tiếp cận thị trường xuất khẩu thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, điểm cốt lõi của nghị quyết không nằm ở việc cắt giảm thủ tục mà ở sự thay đổi phương thức quản lý theo hướng tăng cường trách nhiệm tự khai, tự chịu trách nhiệm và hậu kiểm. Cơ chế này chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu được quản lý thống nhất, việc kiểm tra sau cấp mã được thực hiện thường xuyên và thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói được cập nhật, đối chiếu liên tục giữa các cơ quan quản lý.
"Mã số vùng trồng không chỉ là điều kiện để hoàn thiện thủ tục xuất khẩu mà còn là căn cứ truy xuất nguồn gốc và khẳng định mức độ tuân thủ các yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Nếu xảy ra tình trạng kê khai không trung thực, sử dụng sai hoặc mượn mã số vùng trồng thì không chỉ doanh nghiệp trực tiếp vi phạm bị ảnh hưởng mà còn có thể tác động đến uy tín của cả ngành hàng, thậm chí ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp khác", Luật sư Nguyễn Thanh Phong phân tích.
Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, trong bối cảnh nhiều thị trường ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, cần tăng cường kết nối dữ liệu giữa chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý nhà nước để kịp thời phát hiện các trường hợp sử dụng mã số không đúng quy định hoặc không duy trì điều kiện sau khi được cấp mã.
"Việc đơn giản hóa thủ tục và tăng cường hậu kiểm phải được triển khai đồng bộ. Khi cơ chế giám sát vận hành hiệu quả, chính sách không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn góp phần củng cố uy tín của hệ thống mã số vùng trồng Việt Nam, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường quốc tế", Luật sư Nguyễn Thanh Phong nhấn mạnh.