Chuyên đề
Xoay vốn cho hạ tầng đầu tư
Vốn cho đầu tư hạ tầng với hàng loạt công trình trọng điểm đã và đang trở thành bài toán lớn cần có lời giải.

Đầu tư hạ tầng đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030 và là một trong các trục đầu tư có ý nghĩa dài hạn.
Cần nguồn vốn lớn
Chiến lược ưu tiên những công trình có ý nghĩa chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị,… đang được đặt kỳ vọng lớn. Trong đó, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam kỳ vọng có thể hình thành trục vận tải hiện đại xuyên suốt đất nước, đồng thời thúc đẩy công nghiệp đường sắt, cơ khí chính xác, vật liệu mới và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao.
Bên cạnh những dự án trọng điểm quốc gia với quy mô vốn khổng lồ, hàng loạt dự án trọng điểm khác đã và đang tiếp tục được triển khai với sự tham gia của khu vực tư nhân. Mô hình hợp tác đối tác công tư (PPP) và các dự án được đề cao hiệu quả đầu tư khi hạ tầng giao thông vận tải được kết nối đồng bộ, đồng thời gắn chặt với quy hoạch đất đai, đô thị và công nghiệp, hướng đến một bức tranh hạ tầng được nâng tầm và hoàn thiện, trải đường cho chu kỳ tăng trưởng cao của nền kinh tế.
Nền tảng ở góc độ nguồn vốn của các dự án là chính sách đầu tư công. 8,22 triệu tỷ đồng quy mô của đầu tư công 2026-2030 sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hoàn thiện hệ thống hạ tầng và hướng đến phát triển kinh tế bền vững, với điều kiện được giải ngân hiệu quả.
Theo tính toán bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, tổng nhu cầu vốn đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030 lên tới 1.500 tỷ USD, gấp đôi giai đoạn 2021-2025. Đối với quy mô vốn khổng lồ, tương đương 2,5 lần GDP dự kiến của năm 2025 và gấp khoảng 4 lần giá trị toàn bộ thị trường chứng khoán hiện nay, bà Minh cho rằng tín dụng ngân hàng là không đủ.
Ngay cả các ngân hàng cũng sẽ phải tính toán cân đối bài toán vốn để đáp ứng vốn cho vay trung và dài hạn, với việc được nới thêm tỷ lệ sử dụng quỹ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Do đó, nút thắt tháo gỡ vẫn phụ thuộc vào khả năng khơi vốn từ các kênh có thể san sẻ gánh nặng với hệ thống tín dụng ngân hàng.
Tháo gỡ các nút thắt
Thị trường vốn là điểm đến của kênh vốn trung và dài hạn được đặt kỳ vọng cao. Bà Đặng Nguyệt Minh cho rằng từ thực tiễn hiện tại, để giải quyết bài toán vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới, cần tái cấu trúc đồng thời cả phía cung và cầu của thị trường vốn.
Ở phía cung, bà Đặng Nguyệt Minh cho biết, cần bổ sung thêm các doanh nghiệp công nghệ, đẩy mạnh cổ phần hóa và tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng nhằm nâng sức hấp dẫn của thị trường. Ở phía cầu, cần thúc đẩy phát triển các quỹ đầu tư trong nước, quỹ hưu trí, đồng thời tạo điều kiện để các công ty quản lý quỹ và công ty chứng khoán mở rộng quy mô hoạt động.
“Khi hai nút thắt này được tháo gỡ, thị trường vốn sẽ đủ sức chia sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng, tạo nền tảng để Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn phát triển mới”, bà Đặng Nguyệt Minh nhấn mạnh.
Đối với đề xuất tạo điều kiện khơi thông nguồn cầu, Bộ Tài chính hiện đang lấy ý kiến rộng rãi dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Nhiều quy định mới đối với quỹ đầu tư chứng khoán được đề xuất tại dự thảo Luật hướng đến tăng tính linh hoạt trong hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm đầu tư, mở rộng sự tham gia của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Bên cạnh sửa đổi bổ sung Luật Chứng khoán, Chính phủ mới ban hành Nghị định 200/2026/NQ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế vào đầu tháng 6/2026.
Nghị định này được ban hành trong bối cảnh trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, theo ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch Saigon Ratings, quá trình phát triển thị trường cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng tổ chức phát hành, kiểm soát mục đích sử dụng vốn, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Ông Phùng Xuân Minh nhận định mục tiêu của Nghị định 200/2026/NQ-CP không phải thu hẹp kênh trái phiếu doanh nghiệp, mà là hướng dòng vốn đến những tổ chức phát hành có năng lực tài chính, phương án sử dụng vốn khả thi và trách nhiệm trả nợ rõ ràng.
Khi minh bạch thông tin, kỷ luật sử dụng vốn, xếp hạng tín nhiệm và cơ chế giám sát được triển khai đồng bộ, trái phiếu doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát huy vai trò là một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng. Đây chính là cơ sở để các doanh nghiệp tư nhân có thể tiếp cận các nguồn vốn tốt hơn để tham gia vào các dự án hạ tầng.
Tuy nhiên, ông Minh nhấn mạnh, đây mới là điều kiện cần, nhưng chất lượng thực thi mới là yếu tố quyết định. Các quy định phải được áp dụng nhất quán, dữ liệu phải được công bố đầy đủ và những hành vi vi phạm phải được phát hiện, xử lý kịp thời.
Bên cạnh đó, theo ông Minh, các dự án hạ tầng trọng điểm ở các địa phương cần được thúc đẩy để gia tăng cơ hội vốn quy mô lớn, từ các loại hình trái phiếu địa phương, trái phiếu đô thị. Sự trở lại của trái phiếu địa phương đang được các thành phố lớn, như Hà Nội, TP HCM, kỳ vọng sẽ hóa giải phần lớn vốn cho các dự án hạ tầng..,