Kinh tế
Kết nối các cơ chế huy động nguồn lực vốn
Quá trình tư nhân tham gia kiến tạo hạ tầng quốc gia kỳ vọng sẽ đóng góp nguồn lực cùng đầu tư để hoàn thiện nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng mới đang diễn ra.
Song việc xây dựng các cơ chế huy động nguồn lực mới, với sự kết nối đồng bộ và phù hợp giữa các công cụ gọi vốn riêng lẻ thành một kiến trúc tài chính thống nhất mới thực sự đảm bảo đa dạng kênh dẫn vốn và phát huy hiệu quả cho nguồn lực phát triển hạ tầng dài hạn.

Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026- 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương 1.464 tỷ USD). Trong đó, khu vực Nhà nước dự kiến đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng; phần còn lại, xấp xỉ 30 triệu tỷ đồng, phải đến từ thị trường tài chính trong nước và quốc tế, FDI, doanh nghiệp, hộ gia đình,..
Vốn đầu tư xã hội nhu cầu hạ tầng đô thị
Đối với vốn đầu tư đô thị, nhu cầu vốn cho hạ tầng và chống biến đổi khí hậu, ngập lún… cũng được các định chế quốc tế ước tính cần lên hàng chục tỷ USD. Chẳng hạn, để phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại TP HCM, theo Phó Chủ tịch UBND TP HCM Hoàng Nguyên Dinh, từ nay đến năm 2030, TP HCM mục tiêu hoàn thành 6 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 200 km, tổng mức đầu tư cần hơn 20 tỷ USD, trong đó vốn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng một phần.
Vốn đầu tư xã hội nói chung và vốn đầu tư hạ tầng các đô thị lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước, như vậy rất khó có thể đáp ứng được nhu cầu. Đặc biệt, ở các dự án hạ tầng với quy mô vốn khổng lồ đầu tư theo PPP, bản thân các doanh nghiệp tư nhân cũng chỉ có một phần vốn tự có. Các doanh nghiệp tư nhân khó dựa 100% nguồn vốn cần có đầu tư đối ứng từ vay ngân hàng, khi hệ thống ngân hàng đã có tỷ lệ tín dụng/GDP cao…
“Với khả năng cân đối ngân sách Nhà nước và huy động vốn, đầu tư công hiện đang chịu áp lực lớn bởi giới hạn nợ công, yêu cầu kiểm soát chi tiêu và sự gia tăng nhu cầu đầu tư xã hội, mặc dù chúng ta vẫn còn dư địa rất lớn so với các quốc gia. Do đó, chúng ta phải phải tìm kiếm các nguồn lực tài chính mới mang tính dài hạn, bền vững và có khả năng huy động khu vực tư nhân tham gia vào quá trình phát triển đô thị. Cơ chế huy động cần trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn theo các chiến lược phát triển quốc gia, mới có thể đảm bảo dòng vốn luôn được khơi thông chảy suốt cùng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế”, TS Nguyễn Hoàng Hiệp - Chủ tịch HĐKH Viện Nghiên cứu IIB nhìn nhận.
Các cấu phần thể chế tài chính mới
Bài toán khơi thông dòng vốn cho chu kỳ đầu tư phát triển các đô thị lớn, không thể chỉ dựa trên những công cụ/ loại hình huy động vốn truyền thống. Th.S Ngô Trường Tiến (Đại học Aberdeen, Anh; NCS Khoa Tài chính ĐH UEH) cho rằng: Trên cơ sở Bộ Chính trị đã đồng ý chủ trương xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho TP HCM, dự kiến trình Quốc hội khóa XVI cuối năm 2026, Việt Nam nói chung và TP HCM đang đứng trước "cửa sổ thể chế" hiếm có với nhiều cơ hội và thách thức. Bên cạnh đó, Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 và Nghị định số 119/2025/NĐ-CP đã ấn định lộ trình phát triển thị trường carbon. Thực tế chúng ta đã có sàn giao dịch tín chỉ carbon đầu tiên đi vào vận hành - mở ra một thị trường thí điểm mới để hút vốn xanh.
Đồng thời, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định Danh mục Phân loại Xanh, chi tiết các tiêu chí môi trường và quy trình xác nhận dự án đầu tư thuộc Danh mục Phân loại Xanh của Việt Nam cũng phần nào “trải thảm” cho khơi dòng vốn xanh. Cuối cùng, là Nghị quyết số 98/2023/QH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 260/2025/QH15) lần đầu tiên cho phép TP HCM triển khai mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-Oriented Development) và được giữ lại 100% nguồn thu từ khai thác quỹ đất vùng phụ cận các nhà ga. Theo đó, có cơ hội để phát triển các cấu phần thể chế tài chính mới bao gồm trái phiếu xanh đô thị, thị trường tín chỉ carbon đô thị, mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) và công cụ thu hồi giá trị gia tăng từ đất - 4 cấu phần có thể được tích hợp thành một kiến trúc tài chính đô thị thống nhất, đủ sức tài trợ cho lộ trình kiến tạo siêu đô thị tương lai.
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi, rào cản vẫn cơ chế để xây dựng kiến trúc thể chế của các cấu phần có tính liên kết chặt chẽ với nhau. Đơn cử, một dự án metro sẽ thường do một đầu mối quản lý, dự án chỉnh trang đất đai do đầu mối khác, trái phiếu do tài chính - ngân sách xử lý, tín chỉ carbon do môi trường quản lý, còn dữ liệu lại phân tán ở các sở ngành và doanh nghiệp dịch vụ công.
“Nếu không có kiến trúc liên thông, TP HCM có thể phát hành trái phiếu nhưng thiếu danh mục xanh đủ chuẩn; có thể có dự án giảm phát thải nhưng không tạo được tín chỉ; có thể có TOD nhưng giá trị đất tăng thêm không quay lại tài trợ metro; có thể có dữ liệu nhưng không đủ chuẩn kiểm toán và xác minh, và không đủ tin cậy để nhà đầu tư, đầu tư vào trái phiếu phát hành”, chuyên gia nhấn mạnh
“Điểm kết nối”
Từ thực tiễn, chuyên gia Ngô Trường Tiến đề xuất, các thành phố, đô thị lớn của Việt Nam như TP HCM cần ban hành một chương trình hành động tích hợp về tài chính xanh, carbon và TOD, gắn với các cơ chế đặc thù được phép. Chương trình này không nên chỉ liệt kê dự án, mà phải quy định quy trình chuẩn từ nhận diện dự án, xác nhận xanh, lượng hóa phát thải, lựa chọn công cụ tài chính, xác định vùng giá trị lõi, tham vấn cộng đồng, phát hành vốn, giám sát sử dụng vốn và báo cáo tác động.
Với việc ưu tiên thành lập một tổ công tác liên ngành có thẩm quyền thực chất để triển khai hành động, cần xây dựng khung trái phiếu xanh đô thị, thiết kế chương trình tín chỉ carbon đô thị theo mô hình gộp dự án; xây dựng cơ chế sử dụng nguồn thu carbon theo thí điểm đặc thù để tái đầu tư cho các chương trình khí hậu, kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn.
Đặc biệt, ông Ngô Trường Tiến đề xuất ban hành khung cơ chế thu hồi giá trị gia tăng thêm từ đất (LVC) cho TOD trước khi giá đất tăng quá mạnh. Đồng thời, xây dựng hạ tầng dữ liệu số làm nền tảng cho tài chính xanh.
“Điều quan trọng thật sự không nằm ở việc tạo ra công cụ mới, mà ở việc tích hợp bốn công cụ đã có bao gồm: trái phiếu xanh, tín chỉ carbon, TOD, LVC thành một kiến trúc tài chính khép kín với ba mối nối: dòng tiền, dòng dữ liệu và dòng quyết định. Nếu Luật Đô thị đặc biệt dành cho TP HCM được thông qua, đưa ra được khung thể chế có tính liên kết cao, triển khai nhất quán, TP có thể chuyển từ mô hình phụ thuộc vào ngân sách sang mô hình huy động vốn có kỷ luật, vận hành theo quy luật thị trường, minh bạch dữ liệu, và đảm bảo lợi ích từ đầu tư công được tái phân phối tiếp tục xây dựng hạ tầng, môi trường và người dân”, Ths Ngô Trường Tiến nhận định.
Theo TS Nguyễn Hoàng Hiệp, trong kỳ vọng siêu đô thị, TP HCM đang chờ đợi Luật Đô thị đặc biệt với các khung thể chế mở rộng cánh cửa cho các cơ chế huy động vốn hữu hiệu. Ông cho rằng bên cạnh đó, việc lồng ghép, tương hỗ của các cơ chế, tại các đô thị như TP HCM, hay khu vực miền Trung là Đà Nẵng, cơ hội vốn sẽ nhân lên nhiều lần khi kết nối kiến trúc tài chính đô thị cùng Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam được đặt tại ở các đô thị này.
Từ nay đến năm 2030, TP HCM mục tiêu hoàn thành 6 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 200 km, tổng mức đầu tư cần hơn 20 tỷ USD, trong đó vốn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng một phần.