Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Sửa Luật Dầu khí: Cần thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững

Gia Nguyễn 05/08/2026 04:30

Đánh giá cao các nội dung được đề xuất, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, góp ý Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), không ít ý kiến cho rằng, cần thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững.

Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí, tháo gỡ vướng mắc, tăng cường phân cấp, phân quyền, thu hút đầu tư, bổ sung cơ sở pháp lý cho thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) và phát triển năng lượng ngoài khơi.

sua-luat-dau-khi-4.8.1.jpg
Việc sửa Luật Dầu khí nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí, tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tiễn - Ảnh minh họa: ITN

Thực tế cho thấy, sau hơn 3 năm triển khai thi hành, Luật Dầu khí năm 2022 từng bước phát huy hiệu quả, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động dầu khí, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy đầu tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh năng lượng. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, những biến động của thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, một số quy định của Luật hiện hành cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành dầu khí.

Đánh giá cao các nội dung được đề xuất, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, góp ý Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), không ít ý kiến cho rằng, cần thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững.

Tham gia góp ý Dự thảo Luật (sửa đổi), đại biểu Tạ Đình Thi, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội bày tỏ nhất trí về sự cần thiết phải sửa đổi luật lần này. Đồng thời đánh giá cao các bước đột phá liên quan đến Dự thảo Luật.

Theo đại biểu, so với Luật Dầu khí năm 2022, Dự thảo lần này đã có những bước tiến lớn, đặc biệt là trong việc phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa các thủ tục. Đặc biệt, lần đầu tiên những quy định khung đối với các hoạt động thu hồi và lưu trữ carbon (CCS), dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao, cũng như vấn đề phát triển năng lượng gió ngoài khơi được đưa ra.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, từ góc độ thể chế hóa các chủ trương của Đảng, đặc biệt vừa qua Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Trong Dự thảo Luật này cần phải nghiên cứu để thể chế hóa sâu sắc hơn nữa các nội dung của Nghị quyết.

sua-luat-dau-khi-4.8.2.jpg
Bên cạnh những điểm tích cực, một số ý kiến đề nghị, cần thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững trong Luật - Ảnh minh họa: ITN

Cụ thể, về thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững và chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, dẫn nội dung của Nghị quyết 20-NQ/TW về khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần… theo đại biểu, Dự thảo Luật cần phải rà soát, bổ sung để phản ánh đầy đủ quan điểm này trong các điều, khoản.

Về hoạt động CCS, đại biểu cho rằng, Dự thảo Luật đã có một chương riêng về CCS, tuy nhiên, các quy định hiện tại còn quá chung chung, mang tính khung và chưa đủ để tạo ra các động lực cũng như khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho các dự án thương mại. Do vậy, cần nghiên cứu bổ sung các quy định cụ thể hơn về: Trách nhiệm và quyền sở hữu; cơ chế ưu đãi và bảo đảm tài chính; nhập khẩu CO2 để lưu trữ.

Ngoài ra, về quản lý môi trường và chia sẻ dữ liệu biển, đại biểu cũng đề nghị rà soát, bổ sung các nội dung liên quan đến quản lý môi trường; chia sẻ cơ sở dữ liệu; và tận dụng hạ tầng dầu khí.

Cùng với các vấn đề đã nêu, tham gia góp ý, đại biểu Phan Thị Thùy Linh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa đề nghị, chuyển dứt khoát từ tư duy “ưu đãi đầu tư” sang tư duy “cạnh tranh toàn cầu”.

Theo đại biểu, Dự thảo Luật đã bổ sung nhiều chính sách mạnh như hạ thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế xuất khẩu dầu thô, nâng tỷ lệ thu hồi chi phí. Đây là bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhà đầu tư quốc tế không lựa chọn điểm đến chỉ dựa trên mức ưu đãi tuyệt đối, mà sẽ đặt các chính sách của Việt Nam trong tương quan so sánh với Indonesia, Malaysia, Thái Lan, cùng với việc đánh giá mức độ rủi ro về địa chất và địa chính trị.

Trong khi đó, trữ lượng dầu khí còn lại của Việt Nam chủ yếu nằm ở các mỏ nhỏ, mỏ cận biên, thuộc vùng nước sâu, xa bờ, có cấu trúc địa chất phức tạp, chi phí và rủi ro thăm dò rất lớn. Với những đặc điểm này, việc ấn định một khung ưu đãi cứng áp dụng chung cho mọi lô, mọi mỏ là chưa phù hợp.

Đại biểu đề nghị thiết kế lại Điều 43 về ưu đãi đầu tư đối với hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu khí và Điều 44 về ưu đãi đầu tư đối với phát triển, khai thác mỏ dầu khí cận biên theo hướng xây dựng cơ chế mở.

“Theo đó, Luật chỉ nên quy định các nguyên tắc, tiêu chí và biên độ trần - sàn; đồng thời cho phép đàm phán tỷ lệ chia sản phẩm, điều chỉnh linh hoạt theo sản lượng thực tế và biến động của giá dầu thế giới, thay vì duy trì một mức ưu đãi bất biến trong suốt vòng đời của mỏ”, đại biểu góp ý.

Gia Nguyễn