Chính trị - Xã hội
Trình Quốc hội việc thành lập thành phố Quảng Ninh và Bắc Ninh
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, tại phiên họp sáng 06/8, Quốc hội nghe Tờ trình, Đề án và Báo cáo thẩm tra việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, về cơ sở chính trị, pháp lý việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh đã bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý theo quy định, cụ thể: Tại Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 24/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, ý kiến của Bộ Chính trị tại Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 và Kết luận số 52-KL/TW ngày 20/6/2026 về đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh, trình Quốc hội khóa XVI xem xét, quyết định tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.
Đồng thời, việc thành lập 02 thành phố đã phù hợp với Quy hoạch tổng thể quốc gia; Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn, Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng, Quy hoạch tỉnh, Quy hoạch chung đô thị của Quảng Ninh và Bắc Ninh.

Về cơ sở thực tiễn, theo Bộ trưởng, thực tiễn phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Bộ và cả nước thời gian qua cho thấy tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Bắc Ninh luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng, 02 tỉnh đã phát huy tốt tiềm năng, lợi thế để phát triển trở thành những địa phương có quy mô nền kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cụ thể, Quảng Ninh là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và của cả nước, là tỉnh duy nhất ở Việt Nam có đường biên giới cả trên bộ và trên biển với Trung Quốc - thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn của Việt Nam thông qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái và là điểm trung chuyển hàng hóa quốc tế sầm uất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế cửa khẩu và thương mại song phương.
Tỉnh có hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại cả về đường bộ, đường hàng không và đường biển. Năm 2025, tỉnh đã đóng góp vào quy mô GRDP cả nước là 2,87% và vùng đồng bằng sông Hồng là 9,4%; đóng góp vào tăng trưởng của cả nước là 4,1% và của vùng đồng bằng sông Hồng là 11,3%; toàn tỉnh có 247 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 17,05 tỷ USD, đứng thứ 7 cả nước và xếp thứ 4 trong vùng đồng bằng sông Hồng về thu hút vốn đầu tư nước ngoài; xếp thứ 6 cả nước về thu ngân sách, đóng góp vào thu ngân sách cả nước duy trì quanh mức 3,1%…
Còn Bắc Ninh có vị trí chiến lược ở cửa ngõ phía Đông Bắc Thủ đô Hà Nội, nằm trên hành lang kinh tế quan trọng kết nối ASEAN với thị trường Trung Quốc. Tỉnh đang từng bước hoàn thiện hệ thống giao thông đa phương thức (gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không) với các công trình trọng điểm như cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn, Cảng hàng không quốc tế Gia Bình; đường bộ, đường sắt tốc độ cao kết nối với Hà Nội và các địa phương trong khu vực, Ga liên vận quốc tế Kép cùng hệ thống cảng và trung tâm logistics hiện đại, tạo lợi thế nổi trội về kết nối liên vùng và quốc tế.
Năm 2025, Bắc Ninh có quy mô kinh tế đứng thứ 5 cả nước, đứng thứ 3 vùng đồng bằng sông Hồng, chiếm 4,1% quy mô GDP cả nước và 13,6% của vùng đồng bằng sông Hồng; tăng trưởng kinh tế đạt 10,27%, đóng góp 5,34% vào tăng trưởng của cả nước và 15,3% vào tăng trưởng của vùng; thu ngân sách đạt trên 123,6 nghìn tỷ đồng. Đến nay, tỉnh có trên 3.660 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 52 tỷ USD, đứng thứ 2 cả nước. Bên cạnh đó, Bắc Ninh còn là vùng đất văn hiến lâu đời gắn với Thành cổ Luy Lâu - một trong những đô thị cổ sớm nhất Việt Nam, sở hữu kho tàng di sản văn hóa đặc sắc với 08 di sản được UNESCO ghi danh, tạo nền tảng để phát triển hài hòa giữa hiện đại và bản sắc…

“Từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh là cần thiết; tạo tiền đề quan trọng để Quảng Ninh và Bắc Ninh tiếp tục phát triển theo định hướng tại các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, các Quy hoạch có liên quan đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt”, Bộ trưởng bày tỏ.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng cho biết, thành phố Quảng Ninh sẽ được thành lập trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số và số đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Sau khi thành lập, thành phố Quảng Ninh có 6.231,27 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số 1.523.400 người và 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 30 phường, 22 xã và 02 đặc khu.
Còn thành phố Bắc Ninh được thành lập trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số và số đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Ninh. Sau khi thành lập, thành phố Bắc Ninh có 4.713,75 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số 3.989.623 người và có 99 ĐVHC cấp xã gồm 45 phường và 54 xã.
Báo cáo thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết thành lập thành phố Quảng Ninh và thành lập thành phố Bắc Ninh với các lý do như đã nêu trong các Tờ trình và Đề án của Chính phủ. Việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị xem xét, đồng ý về chủ trương.
Theo Chủ nhiệm Phan Chí Hiếu, trên cơ sở nội dung các Tờ trình và Đề án, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp kiến nghị Quốc hội tán thành và thông qua Nghị quyết về việc thành lập thành phố Quảng Ninh và Nghị quyết về việc thành lập thành phố Bắc Ninh.
Bên cạnh đó, đề nghị Chính phủ chỉ đạo UBND tỉnh Quảng Ninh và UBND tỉnh Bắc Ninh khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị, kiện toàn tổ chức bộ máy, thay đổi con dấu và các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động của chính quyền đô thị mới để bảo đảm tính đồng bộ ngay sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết.
Đề nghị chính quyền tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Bắc Ninh (thành phố Quảng Ninh, thành phố Bắc Ninh sau khi được thành lập) tập trung nguồn lực để phát triển địa phương trở thành các cực tăng trưởng kinh tế, khẩn trương sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo mô hình chính quyền đô thị bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, để người dân được thụ hưởng thành quả của sự phát triển theo đúng các chỉ đạo, kết luận và quy hoạch của cấp có thẩm quyền.