Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Tái cấu trúc logistics nâng giá trị nông sản Việt

Quân Bảo 09/08/2026 15:53

Việc đưa hoạt động sơ chế, chế biến sâu và hạ tầng logistics về gần vùng nguyên liệu được xem là hướng đi giúp doanh nghiệp giảm chi phí, hạn chế thất thoát và nâng cao giá trị nông sản Việt Nam.

Nguồn nguyên liệu phục vụ ngành lương thực, thực phẩm và chế biến của TP HCM chủ yếu đến từ các vùng sản xuất lớn như Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, thay vì được sơ chế, phân loại ngay tại nơi sản xuất, nhiều loại nguyên liệu vẫn được vận chuyển ở dạng thô về các nhà máy chế biến tập trung tại TP HCM và các khu vực lân cận.

Vận chuyển nguyên liệu thô phát sinh chi phí kép

Điều này khiến doanh nghiệp phải chi trả chi phí vận chuyển cho cả phần nguyên liệu tạo ra sản phẩm và phần phế phụ phẩm phát sinh trong quá trình chế biến.

6b487f71-18e5-4d56-939e-6b271a0af427.jpg
Ông Nguyễn Phúc Khoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP HCM.

Ông Nguyễn Phúc Khoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP HCM, khi báo cáo “Đặc điểm chuỗi cung ứng ngành lương thực thực phẩm và nhu cầu kết nối logistics từ thực tiễn doanh nghiệp”, cho biết lượng nguyên liệu thô thực tế đưa vào chế biến hiện chỉ đạt khoảng 70%, trong khi 30% còn lại là phế phụ phẩm không có giá trị thương mại. Vì vậy, doanh nghiệp phải gánh thêm chi phí vận chuyển đường dài và chi phí xử lý rác thải công nghiệp cho phần nguyên liệu này.

Đơn cử, với nguyên liệu mía mua tại Tây Ninh có giá khoảng 860 đồng/kg, doanh nghiệp phải chi thêm khoảng 240 đồng/kg cho việc vận chuyển bã mía và xử lý chất thải khi đưa nguyên liệu về nhà máy ép lấy nước. Khoản chi phí phát sinh này tương đương gần 30% giá trị nguyên liệu ban đầu.

Không chỉ làm tăng chi phí sản xuất, việc vận chuyển nguyên liệu thô đường dài còn làm gia tăng nguy cơ hao hụt chất lượng, đặc biệt với nhóm hàng nông sản, thực phẩm có yêu cầu cao về bảo quản.

Lệch pha giữa kho lạnh và vùng nguyên liệu

Bên cạnh bài toán vận chuyển, sự thiếu đồng bộ trong phát triển hạ tầng bảo quản cũng đang khiến chuỗi cung ứng nông sản mất thêm chi phí.

Hiện nay, hệ thống kho lạnh vẫn còn phân tán và chưa thực sự gắn với các vùng nguyên liệu lớn. Một số kho lạnh quy mô lớn được xây dựng tại khu vực công nghiệp, nhưng lại cách xa nơi sản xuất. Trong khi đó, nhiều vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu vẫn thiếu kho lạnh đạt chuẩn.

Ông Đặng Quý Nhân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xuất nhập khẩu TP HCM, cho biết có những kho lạnh lớn như kho AJ Total lại đặt tại Khu công nghiệp Long Hậu, nơi không có vùng nguyên liệu. Ngược lại, những địa phương sản xuất nông sản xuất khẩu như Trảng Bom (Đồng Nai), nơi tập trung vùng trồng chuối, lại thiếu hệ thống kho lạnh phù hợp.

Sự lệch pha giữa vùng sản xuất và hạ tầng logistics khiến doanh nghiệp khó tối ưu chi phí bảo quản, đồng thời làm gia tăng rủi ro thất thoát sau thu hoạch.

Theo ông Lương Quang Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP HCM, tỷ lệ thất thoát nông sản của Việt Nam trong quá trình vận chuyển từ nông trại đến điểm bán lẻ dao động từ 20% đến 25%. Đây là một phần giá trị lớn bị mất đi trước khi sản phẩm đến thị trường.

Trong khi đó, chi phí logistics của Việt Nam hiện chiếm khoảng 16% - 20% GDP, cao hơn mức 8% - 10% tại châu Âu, Mỹ và khoảng 12% - 13% tại Thái Lan. Bên cạnh chi phí vận tải trực tiếp, doanh nghiệp còn phải chịu nhiều khoản chi phí như tổn thất hàng hóa, chi phí cơ hội và tỷ lệ xe chạy chiều rỗng từ 30% - 40%.

Không chỉ tạo áp lực về chi phí, việc thiếu hạ tầng sơ chế và chế biến ngay tại vùng nguyên liệu còn khiến nhiều cơ hội nâng cao giá trị nông sản bị bỏ lỡ.

Trường hợp cây cam tại xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long là một ví dụ. Vào mùa thu hoạch, giá cam tại vườn có thời điểm giảm xuống dưới 1.000 đồng/kg, khiến nhiều hộ dân bỏ cả vườn vì chi phí thuê nhân công thu hoạch cao hơn giá bán. Trong khi đó, giá cam bán lẻ trên thị trường có thể lên tới khoảng 5.000 đồng/kg.

Theo ông Nguyễn Phúc Khoa, doanh nghiệp hiện đã có công nghệ xử lý nước ép cam không bị đắng sau thời gian bảo quản. Tuy nhiên, việc đưa công nghệ này vào thực tế gặp khó khăn do không thể vận chuyển nguyên quả cam từ Vĩnh Long lên TP HCM để chế biến. Để xử lý tại nguồn, cần đồng thời có hệ thống nhà máy trích xuất tinh dầu và xử lý phế phụ phẩm ngay tại vùng trồng.

Điều này cho thấy bài toán của nông sản không chỉ nằm ở công nghệ chế biến, mà còn phụ thuộc vào khả năng hình thành một hệ sinh thái logistics và hạ tầng hỗ trợ ngay tại nơi sản xuất.

Đưa logistics và chế biến sâu về gần vùng nguyên liệu

Để giảm chi phí trong chuỗi cung ứng, việc phát triển hệ thống sơ chế, cấp đông và chế biến sâu ngay tại vùng nguyên liệu đang được xem là hướng đi quan trọng.

Phân loại và sơ chế tại chỗ trước khi vận chuyển về nhà máy trung tâm giúp giảm khối lượng cần vận chuyển, hạn chế hao hụt và duy trì chất lượng sản phẩm. Đồng thời, việc kết hợp công nghệ chế biến sâu với hệ thống xử lý phế phụ phẩm tại nguồn có thể giúp biến phần nguyên liệu trước đây bị bỏ đi thành nguồn giá trị mới.

Song song với đầu tư của doanh nghiệp, việc quy hoạch hạ tầng logistics cần được thực hiện theo hướng gắn với vùng sản xuất thay vì chỉ tập trung tại các trung tâm công nghiệp.

Ông Đặng Quý Nhân cho rằng cần quy hoạch hệ thống kho lạnh gắn liền với các vùng nguyên liệu. Trong khi đó, ông Lương Quang Thi đề xuất phát triển kho lạnh xanh kết hợp với vận tải đường thủy nội địa liên vùng giữa Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Ninh và TP HCM nhằm giảm từ 20% đến 30% chi phí logistics.

Một giải pháp khác là thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ trong logistics tại nguồn. Thay vì để từng doanh nghiệp tự đầu tư cơ sở sơ chế, kho lạnh hoặc trung tâm logistics nhưng khai thác không thường xuyên, các hiệp hội logistics và hiệp hội ngành hàng có thể phối hợp xây dựng hạ tầng dùng chung, giúp tối ưu nguồn lực.

Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức tính cước vận tải theo khối lượng thay vì chỉ dựa trên chuyến hoặc quãng đường cũng được xem là giải pháp giúp doanh nghiệp xác định chính xác hơn chi phí sản xuất và xây dựng giá bán phù hợp.

Về dài hạn, việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng đưa logistics, sơ chế và chế biến sâu về gần vùng nguyên liệu không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, mà còn là điều kiện để giữ lại nhiều hơn giá trị của nông sản Việt Nam ngay từ đầu chuỗi.

Quân Bảo