Tín dụng - Ngân hàng

Tín dụng - Ngân hàng

Ngân hàng - Thách thức và nỗ lực cải thiện chất lượng tài sản

Lê Mỹ 09/08/2026 16:09

Cùng việc tiếp tục ghi nhận kết quả tốt hơn kỳ vọng, được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng tích cực, NIM phục hồi và thu nhập từ phí cải thiện đáng kể, ngành ngân hàng có những dấu hiệu về chất lượng tài sản suy giảm.

Ngành ngân hàng tiếp tục ghi nhận kết quả tốt hơn kỳ vọng, được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng tích cực, NIM phục hồi và thu nhập từ phí cải thiện đáng kể, báo cáo cập nhật ngành ngân hàng của SSI Research nhận định.

Ngành ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng tích cực trong quý II/2026, nhưng chất lượng tài sản có tín hiệu suy giảm. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn).
Ngành ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng tích cực trong quý II/2026, nhưng chất lượng tài sản có tín hiệu suy giảm. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn).

Tuy nhiên, các chuyên gia SSI Research cho biết vẫn giữ quan điểm thận trọng đối với ngành khi những dấu hiệu về chất lượng tài sản suy giảm ngày càng trở nên rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan.

Cụ thể tỷ lệ nợ xấu toàn ngành lên mức cao kỷ lục trong quý II kể từ năm 2020, xu hướng suy giảm chất lượng tài sản lan rộng trên các ngân hàng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm. Bên cạnh đó, đà phục hồi NIM sẽ cần được theo dõi trong nửa cuối năm 2026 khi chi phí vốn điều chỉnh tăng mạnh hơn. Mặc dù điều kiện thanh khoản cải thiện trong quý, nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn dự kiến vẫn ở mức cao, do bước vào giai đoạn đầu tư tiếp theo của các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia và khoảng cách tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động.

Ngân hàng đẩy mạnh khai thác dư địa tín dụng

Thống kê của SSI cho thấy các ngân hàng quay trở lại phân khúc cho vay cốt lõi, đồng thời tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn. Sau những nỗ lực đa dạng hóa danh mục cho vay trong quý I/2026, phần lớn ngân hàng đã quay trở lại các lĩnh vực được cho là thế mạnh của mình trong quý II/2026. Cụ thể, những ngân hàng có nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng như MBB, VPB, HDB, TCB, TPB và VIB chủ yếu đẩy mạnh giải ngân cho vay chủ đầu tư bất động sản (+22% so với quý trước), thương mại và bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy (+6% so với quý trước) và dịch vụ tài chính (chủ yếu là công ty chứng khoán, +20% so với quý trước). Trong khi đó, nhóm NHTMNN và ACB tập trung cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn và hộ kinh doanh.

Cho vay mua nhà chững lại trên toàn ngành, kể cả những ngân hàng có hạn mức tín dụng dồi dào như VPB (+2,4% so với quý trước), HDB (đi ngang so với quý trước) và TCB (-1,4% so với quý trước). Xu hướng này tương đối dễ hiểu khi lãi suất vay mua nhà đã tăng mạnh, với lãi suất thả nổi hiện phổ biến ở mức 12-14%, trong khi nguồn cung nhà ở giá thấp vẫn hạn chế.

Tín dụng mảng xây dựng tiếp tục tăng trưởng ổn định tại nhiều ngân hàng, dù đã có dấu hiệu chậm lại tại các ngân hàng cho vay lớn như MBB, VPB và TCB. Trong khi đó, dịch vụ tài chính vẫn là một trong những lĩnh vực được đẩy mạnh cấp tín dụng, với ít nhất 42,6 nghìn tỷ đồng tín dụng mới được giải ngân trong quý II/2026 (+20% so với quý trước; +27% tính từ đầu năm).

Cùng với đẩy mạnh khai thác dư địa tín dụng, trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao, các ngân hàng ngày càng dịch chuyển cơ cấu cho vay sang các khoản vay trung và dài hạn thay vì tập trung vào cho vay ngắn hạn. Trong phạm vi theo dõi của SSI Research, dư nợ trung và dài hạn tăng 6,0% so với quý trước, cao hơn đáng kể so với dư nợ trong ngắn hạn tăng 3,8% so với quý trước. BID duy trì các kỳ hạn cho danh mục cho vay tương đối cân bằng, trong khi CTG và MSB tiếp tục ưu tiên cho vay ngắn hạn.

"Theo quan điểm của chúng tôi, sự thay đổi trong cơ cấu kỳ hạn cho vay là một trong những động lực thúc đẩy NIM mở rộng trong Q2/2026", bà Nguyễn Thu Hà - Giám đốc Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu Đầu tư SSI nhân định.

Chất lượng tài sản phân hóa

Chất lượng tài sản có sự phân hóa giữa các ngân hàng, trong khi những dấu hiệu suy yếu dần xuất hiện. Nợ xấu toàn ngành tăng 21,4% tính từ đầu năm (+9,5% so với quý trước). Mức tăng chủ yếu tập trung tại CTG (+21,8% so với quý trước), STB (+15,6% so với quý trước), HDB (+17,6% so với quý trước) và BID (+7,2% so với trước), trong khi phần lớn các ngân hàng khác tương đối ổn định.

Nợ xấu
(Nguồn: SSI RS)

Theo đó, SSI ghi nhận tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97% trong quý II/2026 (so với 1,88% trong quý I/2026) - là mức tăng cao nhất của quý 2 kể từ năm 2020. Nợ Nhóm 2 cũng tăng đáng kể 31,6% tính từ đầu năm (+17,5% so với quý trước). Nhìn chung, chất lượng tài sản có sự phân hóa giữa các ngân hàng, trong đó áp lực chủ yếu tập trung tại STB và HDB.

Tương tự với chi phí dự phòng, trong khi các NHTMNN giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, thì nhóm NHTMCP lại tăng mạnh 33% so với quý trước, chủ yếu đến từ STB (+152% so với quý trước), HDB (+104% so với quý trước), OCB (+85% so với quý trước) và ACB (+55% so với quý trước).

Theo đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm xuống 83% trong Q2/2026, từ 86% trong quý I/2026 và 95% trong quý II/2025. "Chúng tôi duy trì quan điểm thận trọng đối với chất lượng tài sản của ngành trong nửa cuối năm 2026. Với mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao 12-15%, đặc biệt ở phân khúc vay mua nhà, và khả năng vỡ nợ chéo giữa các tổ chức tín dụng thông qua dữ liệu CIC trong những quý tới", theo các chuyên gia SSI.

Nỗ lực cải thiện chất lượng tài sản

SSI Research cũng cho biết, thống kê tại quý II, tỷ lệ biên lãi ròng (NIM) ngân hàng phục hồi vượt kỳ vọng. Tính đến quý II/2026, NIM tăng 18 điểm cơ bản so với quý trước (+4 điểm cơ bản svck) lên 3,22%, trong đó nhóm NHTMNN tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước, trong khi nhóm NHTMCP tăng 19 điểm cơ bản so với quý trước. MSB và VPB là hai ngân hàng đi ngược xu hướng này khi ghi nhận NIM lần lượt giảm 29 điểm cơ bản so với quý trước và 13 điểm cơ bản so với quý trước.

Một trong những điểm giúp NIM phục hồi, theo các nhà phân tích, đến từ cơ chế định giá. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế định giá hiện nay theo SSI cũng có thể làm gia tăng áp lực trả nợ đối với khách hàng trong các quý tới. Nếu xu hướng này kéo dài, chất lượng tài sản có thể sẽ dần suy yếu, thể hiện qua việc nợ xấu hình thành mới và chi phí tín dụng gia tăng.

Từ phía các ngân hàng, thực tế nỗ lực giữ và cải thiện chất lượng trong bối cảnh lãi suất duy trì mức tăng cao và cơ cấu tín dụng dịch chuyển sang cho vay trung và dài hạn hơn ngắn hạn đang thực sự gặp thách thức. Song không phải tất cả đều thách thức bởi có nhiều yếu tố hỗ trợ cho nỗ lực này trong giai đoạn nửa cuối năm.

Trong đó, nỗ lực hỗ trợ thanh khoản thông quan can thiệp nguồn vốn của Kho bạc Nhà nước có thể giúp chi phí vốn giảm áp lực. Việc chuyển phần tăng từ chi phí huy động sang lãi suất cho vay, giúp lợi suất tài sản tăng nhanh hơn chi phí vốn trong ngắn hạn hỗ trợ theo cơ chế định giá hiện tại, có thể kéo dài hiệu quả với chi phí tín dụng thực tế phù hợp hơn.

Đáng chú ý, nhiều ngân hàng có chiến lược đầu tư dài hạn vào năng lực quản trị rủi ro, dữ liệu và công nghệ (như VPB, HDB), hay các ngân hàng trước đó đã có các chiến lược phòng thủ với bộ đệm dự phòng rủi ro cao (như VCB) vẫn sẽ giữ được chất lượng tài sản tích cực.

Ngay cả trường hợp của STB với quá trình tái cơ cấu kéo dài, xử lý hệ quả nợ xấu khiến chất lượng tài sản suy giảm và bào mòn lợi nhuận, nhưng đây cũng là kết quả của động thái nỗ lực tái cơ cấu và trích lập dự phòng cao. Bên cạnh việc tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 6 tháng đầu năm 2026 lên 7.119 tỷ đồng, gấp hơn 6 lần cùng kỳ, khiến lợi nhuận trước thuế giảm cho thấy STB tăng cường củng cố "lá chắn" dự phòng, trọng tâm khoản nợ được bảo đảm đã được chuyển giao cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo Đề án tái cơ cấu cũng đang được kỳ vọng khi xử lý dứt điểm thành công, lại sẽ mở ra dư địa lớn để ngân hàng cải thiện chất lượng tài sản...

Nhìn chung, SSI nhận định, vẫn kỳ vọng lợi nhuận ngành ngân hàng sẽ tăng trưởng tích cực trong nửa cuối năm 2026, nhưng mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ rõ hơn, tùy thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng.

Lê Mỹ