Nghiên cứu - Trao đổi
Ngăn lao động "bỏ hợp đồng": Có nên dùng biện pháp cấm xuất cảnh?
Ý kiến đề xuất cấm xuất cảnh đối với lao động từng vi phạm pháp luật ở nước ngoài đang đặt ra câu hỏi về phạm vi, điều kiện và tính tương xứng của biện pháp này.
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày 10/8, đại biểu Trần Đình Gia (Hà Tĩnh) nêu thực trạng một bộ phận lao động sau khi ra nước ngoài chỉ làm việc theo hợp đồng một thời gian ngắn, sau đó tự ý bỏ ra ngoài làm việc để tìm kiếm thu nhập cao hơn.
.jpg)
Theo đại biểu, tình trạng vi phạm hợp đồng, cư trú bất hợp pháp đã để lại những hệ lụy đáng lo ngại. Một số thị trường lao động lớn đã dừng tiếp nhận lao động đối với một số địa phương, qua đó không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của lao động Việt Nam mà còn tác động trực tiếp đến cơ hội của những người có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài đúng quy định.
Từ thực tế trên, đại biểu Trần Đình Gia đề nghị khi sửa luật cần có cơ chế nghiêm khắc hơn đối với những người từng vi phạm pháp luật trong quá trình lao động ở nước ngoài. Trong đó, ông đề xuất cấm xuất cảnh đối với những trường hợp đã vi phạm, nhằm tránh tình trạng một người vi phạm tại thị trường này sau khi trở về lại tiếp tục đi làm việc tại thị trường khác.
Trao đổi về nội dung này, một số ý kiến cho rằng, đề xuất xuất phát từ yêu cầu bảo vệ uy tín của lao động Việt Nam và duy trì những thị trường tiếp nhận lao động quan trọng. Tuy nhiên, nếu xem xét một biện pháp hạn chế xuất cảnh, vấn đề cần được làm rõ là hành vi nào sẽ thuộc diện áp dụng, mức độ vi phạm ra sao, thời hạn bao lâu và cơ quan nào có thẩm quyền xác định.
Bởi trên thực tế, việc tự ý bỏ hợp đồng lao động, cư trú bất hợp pháp và vi phạm pháp luật tại nước sở tại là những hành vi có bản chất, mức độ và hậu quả pháp lý khác nhau. Nếu không phân định rõ, một chế tài áp dụng chung có thể dẫn tới việc những trường hợp rất khác nhau lại chịu cùng một biện pháp hạn chế.
Dưới góc nhìn pháp lý, Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp – Giám đốc Công ty Luật HPVN cho rằng, việc tăng chế tài đối với người lao động vi phạm cần được nhìn từ yêu cầu bảo vệ thị trường lao động ngoài nước và quyền lợi của số đông những người chấp hành đúng quy định. Tuy nhiên, nếu xem xét áp dụng biện pháp hạn chế xuất cảnh thì điều kiện áp dụng phải được quy định cụ thể, minh bạch và tương xứng với tính chất, mức độ của từng hành vi.
Theo Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp, trước hết cần xác định rõ thế nào là “vi phạm” đủ mức độ để áp dụng biện pháp này. Người tự ý bỏ hợp đồng, người vi phạm quy định về cư trú và người có hành vi vi phạm pháp luật tại nước sở tại không nên mặc nhiên được xếp chung để áp dụng một chế tài giống nhau.
“Nếu xây dựng chế tài, cần quy định rõ hành vi nào thuộc diện áp dụng, căn cứ xác định vi phạm, thời hạn áp dụng và cơ quan có thẩm quyền quyết định. Không nên chỉ dựa vào khái niệm chung là “đã từng vi phạm ở nước ngoài” để hạn chế cơ hội tiếp tục đi làm việc hợp pháp của người lao động”, Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp phân tích.
Theo Luật sư Hiệp, một vấn đề khác cần được làm rõ là thời hạn áp dụng. Nếu một hành vi vi phạm đã được xử lý nhưng tiếp tục trở thành căn cứ hạn chế xuất cảnh trong thời gian quá dài, chế tài có thể vượt khỏi mục tiêu răn đe ban đầu và ảnh hưởng đến cơ hội việc làm hợp pháp của người lao động.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế để người thuộc diện áp dụng được biết rõ căn cứ, thời hạn và cơ quan ra quyết định; đồng thời có quyền giải trình, khiếu nại và được xem xét chấm dứt biện pháp khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Theo Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp, việc xây dựng một cơ chế đủ sức răn đe là cần thiết bởi hành vi bỏ hợp đồng hoặc cư trú bất hợp pháp không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân vi phạm mà còn có thể tác động đến cơ hội của những lao động khác và uy tín của Việt Nam tại thị trường tiếp nhận. Tuy nhiên, chế tài càng tác động trực tiếp đến quyền của cá nhân thì điều kiện áp dụng càng phải được quy định chặt chẽ.
“Mục tiêu bảo vệ thị trường lao động và quyền lợi của những người chấp hành đúng quy định là cần thiết. Nhưng nếu sử dụng biện pháp hạn chế xuất cảnh, các điều kiện áp dụng phải thật rõ ràng, có thời hạn và tương xứng với hành vi vi phạm, tránh để một sai phạm trở thành rào cản kéo dài đối với cơ hội làm việc hợp pháp của người lao động”, Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp nhấn mạnh.