Chuyên đề
Sàn giao dịch carbon: Làm gì để hút doanh nghiệp, tăng thanh khoản?
Sàn giao dịch carbon trong nước đã đi vào vận hành từ tháng 6/2026, dù có nhiều doanh nghiệp quan tâm nhưng thanh khoản ban đầu vẫn còn thấp.
Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, cho biết Việt Nam đã có hàng trăm dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) được cấp tín chỉ. Một số dự án đang chuyển đổi sang cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris. Ngoài ra, Việt Nam có hơn 10 dự án theo Cơ chế tín chỉ chung (JCM) và nhiều dự án theo các tiêu chuẩn carbon khác.

Doanh nghiệp quan tâm dự án và sàn giao dịch carbon
Sự phát triển của các dự án carbon cũng mở ra nhu cầu đối với các tổ chức thẩm định. Hiện có khoảng 30 tổ chức đáp ứng yêu cầu về chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng theo quy định. Đây là một trong những mắt xích cần thiết bởi lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và chứng nhận trước khi có thể trở thành tín chỉ giao dịch trên thị trường, ông Quang chia sẻ tại "Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: Từ chính sách đến hành động" do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Viện Tư vấn và phát triển (CODE), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) với sự hỗ trợ của Cục Kinh tế Liên bang Thuỵ Sĩ (SECO) tổ chức sáng ngày 14/8.
Theo bà Phạm Liên Anh, Trưởng Chương trình Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam, Lào, Campuchia của IFC, mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với các dự án carbon đang tăng rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp đã, đang hoặc chuẩn bị xây dựng dự án carbon gắn với các giải pháp giảm phát thải.
"Cục Biến đổi khí hậu và IFC cũng đang chuẩn bị sổ tay hướng dẫn nhằm cung cấp các chỉ dẫn thực tiễn cho doanh nghiệp xây dựng dự án", bà Phạm Liên Anh nói.
Bà cũng cho rằng sự quan tâm của doanh nghiệp chưa đồng nghĩa thị trường trong nước có thể lập tức phát triển mạnh. Theo bà, điều này còn phụ thuộc vào việc hoàn thiện các tiêu chuẩn carbon trong nước, quy trình chứng nhận đủ thuận lợi và doanh nghiệp hiểu rõ cách thực hiện.
Quan trọng hơn, thị trường cần có nhu cầu đủ lớn và mức giá phù hợp. Nhu cầu này được kỳ vọng tăng khi thị trường carbon qua giai đoạn thí điểm và số doanh nghiệp phải giao dịch hạn ngạch mở rộng. Khi đó, tín chỉ từ các dự án giảm phát thải sẽ có thêm đầu ra trong nước.
Thực tiễn từ phía doanh nghiệp cho thấy, không hẳn có mức độ quan tâm thì cũng có thể lập tức tham gia thị trường. Chẳng hạn, ông Sử Thanh Long Giám đốc Dự án sữa quốc tế - Tập đoàn TH nêu vấn đề về việc trong cùng một tập đoàn, lĩnh vực phát thải âm có thể bù trừ cho lĩnh vực phát thải lớn được hay không và có phải qua sàn giao dịch carbon trong nước hay không.

Theo đó, ông Nguyễn Tuấn Quang đã lý giải, Tập đoàn TH không phải đối tượng được phân bổ hạn ngạch và việc bù trừ trong nội bộ để chứng minh chuỗi sản xuất trung hòa carbon là thực hiện được mà không phải qua sàn giao dịch carbon trong nước (vì không liên quan đến sàn).
Thực tiễn này cho thấy nếu mở rộng đối tượng được tham gia thị trường phù hợp các quy định, sau giai đoạn thí điểm, cơ hội của doanh nghiệp và của chính thị trường giao dịch carbon Việt Nam có thể mang đến những giá trị khác.
Thực tiễn giá, chi phí, vận hành giao dịch
Ông Nguyễn Tuấn Quang cũng chia sẻ, việc công nhận các tín chỉ carbon được phát triển theo những tiêu chuẩn độc lập như Verra, Gold Standard để giao dịch trên thị trường trong nước sẽ được xem xét trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn bổ sung khác sẽ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở bảo đảm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và tiêu chuẩn theo quy định.
Từ góc độ đơn vị vận hành tổ chức kết nối đồng bộ sàn giao dịch, ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Tổng Giám đốc, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) cho biết, hiện thị trường carbon trong nước không quy định biên độ dao động giá và đơn vị yết giá là đồng. Vì vậy, đối với các loại tín chỉ thuộc diện được phép giao dịch, sau khi được đăng ký trên Hệ thống đăng ký quốc gia và chuyển sang hệ thống lưu ký, việc mua bán sẽ được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên.
Theo đó, giá giao dịch tín chỉ carbon do bên mua và bên bán tự thỏa thuận, không bị giới hạn bởi mức giá trần, giá sàn hay biên độ dao động giá. Cơ chế này tạo điều kiện để các bên chủ động xác lập giá phù hợp với chất lượng, nguồn gốc và các đặc tính của từng loại tín chỉ.
TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn và Phát triển (CODE), Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia cũng chia sẻ tại diễn đàn về giá tín chỉ carbon và câu chuyện thanh khoản. Chuyên gia dẫn dự báo của Ngân hàng Thế giới khi phân tích vai trò của giá carbon đối với quá trình chuyển đổi xanh.
Theo ông, mức khoảng 147 USD cho mỗi tấn carbon là ngưỡng giá có thể tạo ra tác động đủ lớn tới quyết định của các chủ thể phát thải. Khi giá còn thấp hơn nhiều, sức ép kinh tế để doanh nghiệp thay đổi công nghệ, đầu tư giảm phát thải chưa thực sự mạnh.
Điều này xuất phát từ bản chất của cơ chế định giá carbon. Khi phát thải trở thành một khoản chi phí đáng kể, doanh nghiệp phải đặt lên bàn cân giữa tiếp tục trả tiền cho lượng phát thải và bỏ vốn đầu tư công nghệ, thay đổi quy trình sản xuất để giảm lượng khí nhà kính. Giá carbon càng thấp, động lực kinh tế cho lựa chọn thứ hai càng hạn chế.
Ông Nghĩa cho rằng khoảng cách này đặc biệt đáng chú ý tại các nước đang phát triển, nơi giá carbon nhìn chung còn thấp. Việt Nam cũng đang ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành và vận hành thị trường, nên còn một chặng đường dài để mức giá carbon đủ sức tạo ra hiệu ứng giảm phát thải như kỳ vọng.
Chuyên gia nhìn nhận, đây là vấn đề cần được tính đến trong quá trình hoạch định chính sách. Mục tiêu của thị trường carbon không chỉ là hình thành một nơi mua bán hạn ngạch hay tín chỉ, mà quan trọng hơn là tạo được tín hiệu giá đủ mạnh để tác động đến hành vi của bên phát thải.
Vì vậy, mức giá cao hay thấp không đơn thuần quyết định giá trị của một tín chỉ carbon. Nếu giá phát thải vẫn thấp hơn đáng kể so với chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để chuyển đổi công nghệ, thị trường khó tạo được sức ép đủ lớn cho quá trình giảm phát thải.
Các yếu tố giải bài toán thanh khoản thay cho cấp hạn ngạch dễ dàng
TS. Lê Xuân Nghĩa nhận định, thị trường carbon là một thị trường đặc biệt. Không chỉ có hoạt động đầu tư thương mại mà giá cả hàng hóa là phần thưởng cho những chủ thể tích cực giảm phát thải và phạt những bên phát thải vượt mức quy định. Có thể nói, thị trường carbon chính là đỉnh cao của nền kinh tế xanh.

Về tính thanh khoản của thị trường carbon, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng đây là một vấn đề phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó, ông khẳng định thứ nhất, yếu tố đầu tiên xuất phát từ hạn ngạch do Chính phủ cấp. Nếu cơ quan quản lý phân bổ hạn ngạch dễ dàng, ví dụ một doanh nghiệp phát thải 10 tấn CO₂ nhưng được cấp hạn ngạch tới 9,5 tấn, họ sẽ chỉ có nhu cầu mua bù đắp 0,5 tấn. Nếu khắt khe hơn chỉ cấp 7 tấn, doanh nghiệp bắt buộc phải tìm mua 3 tấn trên thị trường. Việc siết chặt hạn ngạch sẽ thúc đẩy nhu cầu giao dịch, tăng thanh khoản.
Thứ hai là chúng ta có cho đầu cơ thị trường không. Để hình thành một thị trường đúng nghĩa, chính sách cần tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia mua gom ở vùng giá thấp và bán ra khi giá cao, qua đó tạo dòng luân chuyển hàng hóa và kích thích thanh khoản.
Thứ ba là cần có sự tham gia của quốc tế thay vì chỉ giới hạn ở phạm vi trong nước.
Cuối cùng là mặt bằng lãi suất ngân hàng. Doanh nghiệp đi mua tín chỉ hay hạn ngạch carbon đều cần vốn và cần vay ngân háng. Nếu mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao cũng khó có thể tạo ra thanh khoản, không chỉ trên thị trường carbon mà cả trên thị trường chứng khoán.
Ngay trong giai đoạn thí điểm hiện nay, các nhà hoạch định chính sách cần tính toán các yếu tố nêu trên nhằm tăng thanh khoản. Có như vậy, khi bước vào giai đoạn vận hành chính thức, thị trường mới có thể hoạt động sôi động thực sự, tránh tình trạng èo uột khiến các bên mất đi động lực chuyển đổi xanh, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh.
Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon, với trọng tâm chuyển từ xây dựng, hoàn thiện chính sách và thể chế sang tổ chức thực thi, vận hành thị trường trên thực tế.
Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khung chính sách, pháp luật về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon trong nước, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về trao đổi kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
Thông qua các phiên tham luận, tọa đàm và hoạt động kết nối doanh nghiệp, Diễn đàn hướng tới việc làm rõ những cơ hội, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách; đồng thời thúc đẩy kết nối về tín chỉ carbon, tài chính xanh, công nghệ, dữ liệu và các dự án giảm phát thải. Cùng với đó, hoạt động “Business Matching - Kết nối doanh nghiệp” tạo không gian để các doanh nghiệp cung cấp tín chỉ carbon gặp gỡ doanh nghiệp có nhu cầu mua, bù trừ phát thải; đồng thời kết nối các dự án giảm phát thải với nguồn tài chính xanh, công nghệ và các đối tác phù hợp. Hoạt động này hướng tới việc đưa các cuộc trao đổi từ phạm vi thông tin, đối thoại sang những kết nối và cơ hội hợp tác cụ thể, qua đó góp phần hình thành các dự án giảm phát thải có chất lượng và thúc đẩy giao dịch tín chỉ carbon minh bạch.