Nghiên cứu - Trao đổi
Hướng tới nền đo lường dựa trên dữ liệu
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường đang đặt nền móng cho phương thức quản lý mới, chuyển từ tiền kiểm diện rộng sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu và đánh giá rủi ro.
Sau gần 15 năm thực thi, Luật Đo lường đã góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đo lường, bảo đảm tính chính xác của phép đo và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo cùng những yêu cầu mới về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức quản lý.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường (Dự thảo) được xây dựng theo hướng thay đổi căn bản phương thức quản lý. Dự kiến 26/58 điều của Luật được điều chỉnh, trong đó sửa đổi, bổ sung 17 điều; bổ sung 4 điều mới; bãi bỏ 4 điều và một số điểm, khoản không còn phù hợp.

Các nội dung sửa đổi tập trung vào ba nhóm chính sách lớn gồm thúc đẩy chuyển đổi số; nâng cao năng lực hệ thống đo lường quốc gia; tăng phân cấp, cải cách thủ tục hành chính.
Theo bà Nguyễn Như Quỳnh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Khoa học và Công nghệ, đo lường gắn với hầu hết các giao dịch thiết yếu trong đời sống, từ mua bán xăng, vàng đến sử dụng điện, nước. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về đo lường không chỉ liên quan đến công tác quản lý nhà nước mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân và hoạt động của doanh nghiệp.
Bà Quỳnh cho biết, một trong những định hướng trọng tâm của việc sửa đổi Luật là rà soát, cắt giảm các điều kiện, thủ tục không còn phù hợp, đồng thời vẫn bảo đảm công cụ giám sát cần thiết của Nhà nước. Cùng với đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số được kỳ vọng giúp nâng cao hiệu quả quản lý và giảm chi phí tuân thủ.
Đáng chú ý, Dự thảo định hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở đánh giá rủi ro. Theo đó, thay vì kiểm soát đồng loạt, nguồn lực quản lý sẽ được tập trung vào những lĩnh vực, phương tiện đo và hoạt động có nguy cơ cao, qua đó vừa tăng hiệu quả giám sát, vừa tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Cụ thể, đối với phương tiện đo Nhóm 1 phục vụ sản xuất nội bộ, doanh nghiệp được định hướng chuyển sang cơ chế tự công bố sự phù hợp và tự chịu trách nhiệm, đồng thời chủ động lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ hợp pháp. Với hàng đóng gói sẵn, Dự thảo đề xuất bãi bỏ giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng, chuyển trọng tâm sang kiểm tra quy chuẩn kỹ thuật bằng cơ chế hậu kiểm.
Ngược lại, phương tiện đo Nhóm 2 có ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng như công tơ điện, công tơ nước, cột bơm xăng vẫn được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra đo lường tại chợ, cửa hàng và các điểm kinh doanh dân sinh được định hướng tăng cường phân cấp cho UBND cấp xã, phường, qua đó đưa công tác quản lý sát hơn với thị trường và địa bàn thực tế.

Từ góc độ chính sách, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và tăng cường ứng dụng công nghệ số được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cải cách, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình này phụ thuộc lớn vào năng lực hạ tầng và khả năng vận hành hệ thống dữ liệu trong thực tế. Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong quá trình triển khai, khi việc số hóa hoạt động đo lường không chỉ là thay đổi quy trình quản lý mà còn đòi hỏi một hệ thống dữ liệu đủ đồng bộ, kết nối và an toàn.
Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải cho rằng, chuyển đổi số trong lĩnh vực đo lường cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp, có thời gian chuyển tiếp để bảo đảm hạ tầng kỹ thuật đáp ứng khi các quy định mới có hiệu lực. Theo ông, cùng với việc xây dựng hạ tầng số dùng chung, cần đặc biệt chú trọng an toàn, an ninh mạng khi kết nối dữ liệu từ số lượng lớn phương tiện đo.
Theo ông, đây là điều kiện quan trọng để mô hình quản lý dựa trên dữ liệu không dừng ở việc “số hóa thủ tục”, mà thực sự thay đổi phương thức quản lý. Khi dữ liệu về phương tiện đo, kiểm định, kiểm tra và mức độ tuân thủ được cập nhật, liên thông và khai thác hiệu quả, cơ quan quản lý có thể nhận diện rủi ro sớm hơn, đồng thời giảm các cuộc kiểm tra mang tính dàn trải đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.
TS Nguyễn Thái Cường, Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc phân loại theo rủi ro là hướng đi cần thiết, bởi nếu áp dụng cùng một mức độ kiểm soát cho mọi phương tiện đo sẽ vừa gây tốn kém nguồn lực quản lý, vừa làm tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để hậu kiểm thực sự hiệu quả, tiêu chí phân loại rủi ro cần rõ ràng, dữ liệu phải đủ tin cậy và cơ chế xử lý vi phạm phải đủ sức răn đe.
Như vậy, cắt giảm tiền kiểm không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Trọng tâm đang được chuyển từ kiểm soát thủ tục sang kiểm soát kết quả, từ kiểm tra đồng loạt sang quản lý theo rủi ro và từ hồ sơ riêng lẻ sang khai thác dữ liệu. Với cách tiếp cận này, cơ quan quản lý có thể tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực, doanh nghiệp và phương tiện đo có nguy cơ sai phạm cao, đồng thời giảm gánh nặng thủ tục đối với các chủ thể có mức độ tuân thủ tốt.