Doanh nghiệp
Chính sách vốn phù hợp với đặc thù nhu cầu doanh nghiệp
Chính sách vốn cho doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp SME cần cách tiếp cận mới, theo nhu cầu và giai đoạn phát triển của từng nhóm doanh nghiệp.
Nhu cầu lớn và cấp thiết với doanh nghiệp nhỏ và vừa (doanh nghiệp SME) hiện nay là vốn nhưng khu vực doanh nghiệp này rất khó vay. Ngay cả khi chính sách càng ưu tiên vốn thì doanh nghiệp SME lại càng khó tiếp cận vốn
Rào cản khó vượt qua
Ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã nhấn mạnh như vậy tại diễn đàn về phát triển thị trường vốn. Theo đó, dù lãnh đạo Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước yêu cầu hệ thống ngân hàng hạ lãi suất và tăng cho doanh nghiệp SME vay nhưng hàng rào kỹ thuật tồn tại khiến doanh nghiệp SME là rất khó tiếp cận vốn vay.

Đại diện lãnh đạo Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) thông tin cụ thể hơn. Đặc trưng của doanh nghiệp hiện nay là không có tài sản bảo đảm, song theo thống kê 93,5% khoản vay yêu cầu phải có tài sản bảo đảm.
Con số này của thế giới là 68,5%, của khu vực 65,8% và ở Việt Nam, 75,5% doanh nghiệp không thể vay nếu không có tài sản bảo đảm. Đặc biệt, doanh nghiệp SME chiếm 98% tổng số doanh nghiệp, không đáp ứng yêu cầu về tài sản bảo đảm nên dư nợ cho vay khối doanh nghiệp này gần 10 năm nay chỉ tăng từ 16% lên 19%.
Ngoài điều kiện cho vay, kênh vốn cho doanh nghiệp SME, theo ông Nguyễn Văn Thân, chủ yếu từ ngân hàng truyền thống. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần sớm có quy chế sandbox để các bên có thể cho vay lẫn nhau, dẫn đến việc huy động tiền nhàn rỗi của người dân, phát triển trái phiếu doanh nghiệp và các nguồn vốn khác. Các nước đều phát triển các kênh vốn như vậy.
Thực tế trên, theo các chuyên gia, khoảng cách giữa “vốn có trong hệ thống” và “vốn doanh nghiệp thực sự chạm tới” đang tồn tại, được bắt nguồn từ cấu trúc tài chính còn phụ thuộc lớn vào ngân hàng và phương thức cho vay dựa nhiều vào tài sản bảo đảm. Trong khi đó, trên thực tế, tài sản quan trọng nhất của nhiều doanh nghiệp lại nằm ở đơn hàng, các khoản phải thu, máy móc, dữ liệu khách hàng, quyền sở hữu trí tuệ hoặc uy tín với nhà mua hàng. Đây là những tài sản chưa được định giá và chấp nhận đầy đủ trong quy trình cấp vốn.
Phân tầng vốn cho nhu cầu doanh nghiệp
Nền kinh tế đang bước vào giai đoạn mới. Mô hình phát triển của nền kinh tế và mô hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang từng bước dịch chuyển. Nhu cầu vốn trong thời điểm chuyển dịch này là rất lớn.
Doanh nghiệp không chỉ cần nguồn vốn vay có lãi suất phù hợp mà cần cách tiếp cận vốn hợp lý hơn với phương pháp thẩm định dựa trên dòng tiền, cơ chế sử dụng khoản phải thu và hợp đồng làm cơ sở tài trợ. Cách tiếp cận này phù hợp với việc đáp ứng nhu cầu vốn khác nhau theo từng loại hình, từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.

Theo TS Phạm Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, với doanh nghiệp SME cần có các công cụ như quỹ bảo lãnh tín dụng, tài chính chuỗi cung ứng, cho thuê tài chính và các chương trình tín dụng gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, cần phát triển hệ sinh thái quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, thị trường vốn tư nhân và các cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp. Trong khi doanh nghiệp dẫn dắt cần thị trường trái phiếu, cổ phiếu và nguồn vốn tổ chức dài hạn…
Như vậy, việc phát triển thị trường vốn, trong đó có thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, tài chính chuỗi cung ứng và các công cụ tài chính mới rất cần thiết, giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn phù hợp.
Xếp hạng tín nhiệm - mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp
Nhấn mạnh bài toán vốn của doanh nghiệp SME cần được quan tâm, giải quyết kịp thời bởi lực lượng này chiếm khoảng 97 - 98% cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thân cho biết thêm, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã có kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ và đề xuất sáu nhóm nội dung, trong đó có vấn đề xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp.
Nội dung này, theo ông Nguyễn Văn Thân, cơ chế công nhận kết quả xếp hạng tín nhiệm góp phần tạo niềm tin cho thị trường. Được thực hiện bài bản, đây sẽ là công cụ quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo mức độ uy tín, năng lực tài chính và khả năng thực hiện nghĩa vụ. Đối với các ngân hàng, xếp hạng tín nhiệm có thể trở thành một nguồn thông tin tham khảo trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng, qua đó giảm bớt sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn vay cho doanh nghiệp
Ngoài ra, kết quả xếp hạng tín nhiệm cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khi nhà đầu tư có nhu cầu nội địa hóa chuỗi cung ứng hoặc tìm kiếm đối tác đặt hàng có thể dựa vào kết quả xếp hạng. Đây là tín hiệu quan trọng đánh giá mức độ uy tín, năng lực và rủi ro trước khi họ quyết định hợp tác hoặc đầu tư.