Nghiên cứu - Trao đổi
Xây dựng “lá chắn pháp lý” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm
Cơ chế mới hướng tới ưu tiên các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính, chỉ xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng được kỳ vọng tạo dư địa cho doanh nghiệp đổi mới, nhưng cần làm rõ ranh giới trách nhiệm.
Trong quá trình đầu tư vào công nghệ mới, chuyển đổi số hay thử nghiệm những mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với rủi ro thị trường mà còn có thể phát sinh những rủi ro pháp lý khó dự đoán. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp có tâm lý thận trọng, thậm chí lựa chọn không thử nghiệm những giải pháp mới để tránh nguy cơ phát sinh trách nhiệm.

Từ thực tế này, việc thiết lập một cơ chế bảo vệ đối với những trường hợp thực sự đổi mới vì lợi ích chung, không có động cơ vụ lợi đang nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng doanh nghiệp.
Theo đó, Dự thảo nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (Dự thảo) được xây dựng với định hướng ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng.
Dự thảo gồm 3 chương, 13 điều. Trong đó, chương 1 quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ; chương 2 quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Chương 3 của Dự thảo quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện.
Nghị quyết hướng tới xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có nguyên tắc khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; khoan hồng, giảm nhẹ đối với các hành vi vi phạm vì lợi ích chung.
Đối với doanh nghiệp, điểm đáng chú ý nằm ở việc chính sách có thể tạo ra một cách tiếp cận khác đối với những sai sót, thiệt hại phát sinh trong quá trình thử nghiệm và đổi mới. Thay vì mặc nhiên nhìn nhận mọi hậu quả theo hướng xử lý hình sự, pháp luật sẽ có thêm cơ chế để xem xét bản chất, động cơ, mức độ lỗi và khả năng khắc phục hậu quả.
Ông Vũ Thanh Thắng, Chủ tịch Công ty CP AIZ, đồng sáng lập Công ty CP An ninh mạng SCS cho rằng đây là chính sách cần thiết và phù hợp với bản chất của đổi mới sáng tạo.
Theo ông Thắng, nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ mới hay chuyển đổi số luôn đi kèm khả năng thất bại và những rủi ro khó có thể dự đoán hết.
“Nếu người thực hiện, doanh nghiệp đã tuân thủ đúng quy trình, không có động cơ vụ lợi, đã đánh giá rủi ro và thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa nhưng vẫn phát sinh thiệt hại khách quan, thì việc có cơ chế loại trừ trách nhiệm hình sự sẽ tạo ra một ‘không gian an toàn’ để doanh nghiệp và đội ngũ kỹ thuật dám thử nghiệm, dám chịu trách nhiệm và dám đổi mới”, ông Thắng nhìn nhận.
Tuy nhiên, theo vị chuyên gia, chính sách chỉ thực sự tạo được niềm tin khi các điều kiện áp dụng đủ rõ và có thể chứng minh được trong thực tế. Doanh nghiệp cần biết thế nào là “đúng quy trình”, mức độ phòng ngừa nào được coi là “đầy đủ”, cần lưu giữ những hồ sơ gì và cơ quan nào có thẩm quyền xác định một thất bại là rủi ro phát sinh từ hoạt động đổi mới.
“Nếu các tiêu chí vẫn mang tính định tính, doanh nghiệp có thể vẫn e ngại dù pháp luật đã có cơ chế bảo vệ”, ông Thắng nói.
Theo ông, mục tiêu của chính sách không phải miễn trách nhiệm cho mọi thất bại, mà là phải phân biệt rõ rủi ro khách quan của đổi mới với hành vi cố ý vi phạm, vụ lợi hoặc cẩu thả nghiêm trọng.
Từ góc độ xây dựng chính sách, yêu cầu đặt ra là vừa tạo không gian cho doanh nghiệp và người thực thi chính sách dám làm, dám đổi mới, vừa bảo đảm không hình thành cơ chế miễn trừ trách nhiệm quá rộng.
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết cơ quan thẩm tra nhất trí với sự cần thiết ban hành nghị quyết.

Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị Chính phủ lượng hóa tiêu chí phân loại vi phạm, điều kiện áp dụng chính sách khoan hồng; đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng, bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Về nguyên tắc thực hiện, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị quán triệt đầy đủ yêu cầu xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự; trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân.
Đáng chú ý, cơ quan thẩm tra đề nghị tách bạch việc xử lý trách nhiệm với việc tháo gỡ khó khăn, khắc phục hậu quả đối với dự án, công trình. Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, bởi việc xử lý một sai phạm không nên đồng nghĩa với việc khiến một dự án đang có khả năng khắc phục bị đình trệ hoặc kéo dài.
Theo ông Phan Văn Mãi, chính sách khoan hồng chỉ áp dụng đối với trường hợp không tham nhũng, không vụ lợi, vì lợi ích chung, đã khắc phục hậu quả và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Liên quan chính sách không truy cứu trách nhiệm hình sự, đa số ý kiến trong cơ quan thẩm tra tán thành áp dụng đối với trường hợp không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đã hoàn thành và có hiệu quả kinh tế - xã hội, không còn khiếu nại, tố cáo, không gây thất thoát, lãng phí hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra cũng đề nghị cân nhắc điều kiện “đã khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và xử lý tội phạm”, nhằm tránh thu hẹp chính sách khoan hồng và bảo đảm áp dụng thống nhất đối với các vi phạm tương tự.