Kinh tế

Kinh tế

Kết nối nội lực vùng: Động lực để doanh nghiệp Việt bứt phá

Đình Đại 22/08/2026 00:30

Tại Diễn đàn kinh tế tư nhân 2026, các lãnh đạo hội doanh nhân và chuyên gia kinh tế đã cùng thảo luận bài toán xóa bỏ điểm nghẽn phân mảnh, tạo dư địa mới để khu vực tư nhân vươn mình thành lực lượng nòng cốt của nền kinh tế.

diendan.jpg
Các diễn giả chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân 2026 - Ảnh: Đình Đại.

Sứ mệnh thoát bẫy thu nhập trung bình

Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế tư nhân 2026 - Bàn tròn kết nối nội lực cấp miền khu vực miền Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam Đặng Hồng Anh nhấn mạnh rằng miền Nam đang sở hữu những nguồn lực phát triển rất lớn. Tuy nhiên, dư địa quan trọng nhất hiện nay lại nằm ở khả năng tổ chức, kết nối để chuyển hóa các nguồn lực đó thành năng lực cạnh tranh thực chất.

Số liệu quy mô quốc gia năm 2025 chỉ ra rằng, trong số 564 công trình, dự án được khởi công và khánh thành với tổng vốn hơn 5,14 triệu tỷ đồng, khu vực tư nhân đã đóng góp tới 3,84 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 74,6%. Thực tế này chứng minh khối tư nhân không còn đóng vai trò bổ sung đơn thuần mà đã tham gia ngày càng sâu vào các dự án trọng điểm quốc gia bằng vốn, công nghệ và năng lực quản trị. Hợp lực công - tư do đó cần vượt qua khuôn khổ huy động vốn xã hội hóa thông thường, tiến tới tạo cơ chế để nguồn lực công mở đường, thúc đẩy nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư, vận hành và đổi mới.

Sự kết nối này càng có ý nghĩa chiến lược khi xét tới không gian kinh tế năng động của khu vực phía Nam. Tính đến đầu tháng 8/2026, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải đã đạt sản lượng 3,9 triệu container với 53 tuyến dịch vụ quốc tế kết nối trực tiếp đến các thị trường lớn. Song song đó, kim ngạch xuất khẩu của Tây Ninh trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 20,8 tỷ USD, phản ánh sự nhộn nhịp của cửa ngõ giao thương với Campuchia và tiểu vùng sông Mê Kông.

img_7393.jpg
Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam Đặng Hồng Anh phát biểu tại Diễn đàn - Ảnh: Đình Đại.

Ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, điển hình như Cà Mau với kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1,3 tỷ USD và đặt mục tiêu 17 tỷ USD cho giai đoạn 2026–2030, bài toán then chốt là chuyển dịch từ lợi thế sản lượng sang lợi thế giá trị. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc thiếu đầu ra, mà là phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được trong chuỗi cung ứng – từ chế biến, logistics đến thương hiệu và dữ liệu thị trường.

Dưới góc nhìn nghiên cứu kinh tế, TS Trần Du Lịch gửi gắm thông điệp mang tính bước ngoặt đến thế hệ doanh nhân trẻ. Ông cho rằng các doanh nhân chính là lực lượng nòng cốt giúp đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Trong giai đoạn 10 năm tới (2026–2035), nếu Việt Nam không đạt được tốc độ tăng trưởng hai chữ số thì cơ hội thành nước phát triển sẽ trở nên vô cùng mong mỏi khi bước vào thời kỳ dân số già.

Riêng với Đông Nam Bộ, vùng đất chiếm 20% dân số, đóng góp hơn 30% GDP, 36% ngân sách và quy tụ 42% tổng số doanh nghiệp cả nước, việc đạt mốc GRDP bình quân 14.500 USD vào năm 2030 theo Quyết định 615/QĐ-TTg là một sứ mệnh mang tính tiên phong cho cả nước.

7 điểm nghẽn hệ thống từ thực tiễn địa phương

Báo cáo tổng hợp từ các phiên đối thoại địa phương tại Tây Ninh, An Giang, Cà Mau và Đồng Nai do Chủ tịch Hội Doanh nhân Trẻ TP HCM Phan Tấn Đạt – trình bày đã thu nhận 121 ý kiến, kiến nghị. Trong đó, khoảng 24,8% nội dung đã được giải đáp tại chỗ, 45,4% được địa phương ghi nhận xử lý, và gần 30% phải chuyển lên cấp có thẩm quyền cao hơn. Việc gần một phần ba số kiến nghị vượt quá khả năng giải quyết của một địa phương đơn lẻ chính là khoảng trống đòi hỏi sự phối hợp liên tỉnh, liên ngành tại cấp vùng.

ongdat.jpg
Chủ tịch Hội Doanh nhân Trẻ TP HCM Phan Tấn Đạt - Ảnh: Đình Đại.

Qua tổng hợp thực tiễn, Ban tổ chức Diễn đàn khái quát 7 phát hiện chính về các điểm nghẽn xuyên suốt:

Thứ nhất, chất lượng thực thi thể chế và mức độ công khai thông tin đang trở thành lợi thế cạnh tranh của các tỉnh, thành. Doanh nghiệp không chỉ cần quy định rõ ràng mà còn đòi hỏi biết rõ đầu mối xử lý, thời hạn và tiến độ tracking kết quả.

Thứ hai, tổ chức logistics còn phân mảnh dù hạ tầng giao thông mang tính liên vùng rất cao. Một tuyến cao tốc hay cảng biển chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được liên kết thành chuỗi vận hành thông suốt với dòng hàng hóa.

Thứ ba, sự tham gia của doanh nghiệp nội địa vào các chuỗi giá trị còn hạn chế so với quy mô kinh tế vùng, đặt ra yêu cầu phải hỗ trợ doanh nghiệp nâng chuẩn để tiếp nhận và duy trì đơn hàng.

Thứ tư, khả năng hấp thụ công nghệ và chuyển đổi số giữa các doanh nghiệp còn khoảng cách lớn, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ phải xuất phát từ bài toán sản xuất thực tế.

Thứ năm, các tiêu chuẩn chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc và sở hữu trí tuệ đang tạo ra rào cản chi phí đáng kể cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ sáu, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị chưa bắt kịp tốc độ chuyển đổi của mô hình sản xuất mới.

Thứ bảy, khả năng tiếp cận vốn cho các khoản đầu tư dài hạn vào dữ liệu, phần mềm, tiêu chuẩn và thương hiệu vẫn là rào cản lớn.

Ông Phan Tấn Đạt cho rằng, nếu những nút thắt này tiếp tục được xử lý riêng rẽ, năng lực cạnh tranh nội địa sẽ khó tăng tương ứng với đà tăng trưởng chung. Do đó, diễn đàn đặt trọng tâm thảo luận vào 5 nhóm bài toán lớn: thống nhất cơ chế dữ liệu và đầu mối xử lý; tổ chức hạ tầng logistics theo chuỗi hàng hóa; phát triển nhà cung ứng; hỗ trợ nâng cấp doanh nghiệp nhỏ; và tăng cường liên kết nhân lực, quản trị.

Ba giải pháp chiến lược chuyển từ kết nối hạ tầng sang kết nối chuỗi giá trị

Để hiện thực hóa mục tiêu liên kết nội lực, đại diện Trung ương Hội Doanh nhân Trẻ Việt Nam và các chuyên gia đã đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược mang tính đột phá.

Trước hết là bước chuyển từ kết nối hạ tầng sang kết nối chuỗi giá trị. Đường cao tốc hay cảng nước sâu không tự động biến doanh nghiệp nhỏ thành nhà xuất khẩu hay nhà cung ứng cho các tập đoàn FDI. Cần xây dựng Chương trình phát triển nhà cung ứng khu vực miền Nam, trong đó doanh nghiệp FDI công khai nhu cầu mua hàng và tiêu chuẩn kỹ thuật, doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ nâng chuẩn, chính quyền tạo môi trường đầu tư cùng hạ tầng dữ liệu, và các tổ chức hội đứng ra kết nối. Kết quả của liên kết vùng phải đo lường bằng số hợp đồng mới, giá trị giao thương nội vùng và tỷ lệ giá trị gia tăng do doanh nghiệp Việt tạo ra.

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ cần chuyển từ việc chia nhỏ từng hạng mục sang hỗ trợ theo lộ trình nâng cấp tổng thể. Thay vì bóc tách riêng lẻ chi phí công nghệ, tư vấn tiêu chuẩn hay đào tạo nhân lực khiến tổng chi phí chuyển đổi gia tăng, các cơ quan chức năng cần thiết kế gói hỗ trợ đồng bộ gắn liền với kết quả đầu ra như mức tăng năng suất, mức giảm chi phí và khả năng tham gia thị trường.

tslich.jpg
TS Trần Du Lịch phát biểu tại Diễn đàn - Ảnh: Đình Đại.

Ở góc độ chuyên gia, TS Trần Du Lịch kiến nghị triển khai ngay Chương trình phát triển chuỗi giá trị Đông Nam Bộ tập trung vào ba việc cụ thể:

Thứ nhất, xác định từ 5 đến 7 chuỗi sản xuất ưu tiên (như cơ khí chế tạo, điện tử bán dẫn, nông nghiệp thực phẩm, dệt may da giày) và lập bản đồ chuỗi để xác định doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung cấp cũng như các công đoạn còn thiếu.

Thứ hai, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu doanh nghiệp cung ứng của toàn vùng nhằm giúp các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng tra cứu năng lực, tiêu chuẩn và chứng chỉ hành nghề của doanh nghiệp nội địa.

Thứ ba, triển khai chương trình hỗ trợ nâng cấp có trọng tâm cho các doanh nghiệp có tiềm năng trở thành nhà cung ứng, thay vì hỗ trợ dàn trải.

Tựu trung lại, các đại biểu và chuyên gia cùng thống nhất tinh thần "đồng kiến tạo chính sách", nơi Nhà nước hoàn thiện thể chế và hạ tầng, doanh nghiệp chủ động đầu tư nâng cao năng lực, và các tổ chức đại diện đóng vai trò cầu nối, phản biện và theo dõi kết quả. Miền Nam không chỉ cần thêm những công trình hạ tầng lớn, mà quan trọng hơn là cần thêm những doanh nghiệp Việt Nam đủ mạnh để làm chủ các chuỗi giá trị và vươn tầm quốc tế.

Đình Đại