Tín dụng - Ngân hàng

Tín dụng - Ngân hàng

Chênh lệch thanh khoản và đa dạng hóa nguồn vốn trung, dài hạn

Lê Mỹ 22/08/2026 11:00

Với bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận gam màu sáng, vẫn còn khoảng cách huy động - dư nợ và áp lực thanh khoản... đòi hỏi cấu trúc nguồn vốn mới.

Trong khi tín dụng của các ngân hàng trên sàn HOSE ghi nhận mức tăng trưởng 8,7% từ đầu năm đến (tăng 5,3% so với quý trước), huy động dù đã bắt nhịp với mức tăng 5,3% nhưng vẫn chưa đủ sức kéo tỷ lệ LDR xuống mức dễ thở. Chuyên gia Nguyễn Dương Phương, CFA, Chứng khoán Shinhan Việt Nam, chỉ ra rằng, LDR toàn ngành vẫn neo ở mức rất cao là 102,4%. Cá biệt tỷ lệ LDR hệ thống (bao gồm các cấu phần khác) chạm mức 114%, phản ánh áp lực huy động hiện hữu vô cùng lớn.

Nhóm ngân hàng duy trì tăng trưởng lợi nhuận quanh mức dự báo, song một số nhà băng vượt trội về quy mô tài sản và năng lực cung ứng vốn, đặc biệt Vietcombank, VietinBank, Agribank, BIDV đều sở hữu tổng tài sản từ trên 2,5 triệu tỷ đồng. 2 NH tư nhân VPBank, Techcombank đều có tài sản từ 1,5 và 1,27 triệu tỷ đồng. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)
Nhóm ngân hàng duy trì tăng trưởng lợi nhuận quanh mức dự báo, song một số nhà băng vượt trội về quy mô tài sản và năng lực cung ứng vốn, đặc biệt Vietcombank, VietinBank, Agribank, BIDV đều sở hữu tổng tài sản từ trên 2,5 triệu tỷ đồng. 2 NH tư nhân VPBank, Techcombank đều có tài sản từ 1,5 và 1,27 triệu tỷ đồng. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)

Để thu hút dòng tiền bối cảnh lượng tiền mặt trong lưu thông giảm, các ngân hàng đã phải neo lãi suất huy động thực tế ở mức cao, phổ biến từ 8-9%/năm. Dưới góc độ phân tích của chuyên gia, sự chênh lệch cấu trúc hệ thống này "vẫn là điểm nghẽn", khiến các nhà băng phải tìm nguồn bù đắp thông qua việc phát hành giấy tờ có giá và đặc biệt là vay vốn quốc tế.

Tín dụng tăng trưởng tập trung và phân hóa

Phân tích về tín dụng, tăng trưởng tập trung ở nhóm NHTMCP: VPB, HDB và TCB đạt lần lượt 23%; 20,4%; 15,2% ytd; MBB +13,2% ytd. Nhóm Ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước có phần tăng trưởng thận trọng hơn: CTG và BID chỉ tăng khoảng 5% và 5,5% Ytd, VCB tăng 5% ytd nhưng đi ngang QoQ do chủ động dành hạn mức cho các dự án hạ tầng quốc gia quy mô lớn, dự kiến đẩy mạnh trong nửa cuối 2026.

Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tăng trưởng mạnh (MB, HDB, VPB); ngược lại nhóm ngân hàng vừa và nhỏ, thiên về cho vay bán lẻ (ít dư nợ doanh nghiệp và hệ sinh thái) tăng chậm hơn đáng kể so với 2025.

Bóc tách về cơ cấu cho vay, theo CFA Nguyễn Dương Phương, kết quả quý 2 cho thấy đã quay về phân khúc cốt lõi, dịch chuyển sang kỳ hạn dài. Theo đó, các ngân hàng đẩy mạnh giải ngân cho chủ đầu tư bất động sản, thương mại - bán buôn, bán lẻ và dịch vụ tài chính. Hoạt động cho vay mua nhà chững lại trên toàn ngành (VPB +2,4% QoQ, HDB đi ngang, TCB -1,4% QoQ) khi lãi suất thả nổi đã lên 12 -15% và nguồn cung nhà giá thấp còn hạn chế.

Dư nợ trung - dài hạn tăng 11% ytd và 6.0% QoQ, cao hơn ngắn hạn (+6% Ytd và +4% QoQ). Các ngân hàng tài trợ dự án hạ tầng (nổi bật là 18 dự án có sự góp mặt của Sun Group, Vingroup, Masterise), nhà ở xã hội và khu công nghiệp có lợi thế "room" tín dụng khi phần dư nợ này được NHNN loại trừ khi tính hạn mức năm.

Tín dụng xây dựng vẫn tăng ổn định nhưng đã chậm lại tại các ngân hàng cho vay lớn (MBB, VPB, TCB).

Về kỳ hạn, BID duy trì danh mục cân bằng, VCB gia tăng cho vay trung dài hạn trong khi CTG ưu tiên cho vay ngắn hạn. Về danh mục bán lẻ, nhìn chung tăng chậm hơn so với mảng doanh nghiệp, các ngân hàng thế mạnh bán lẻ như ACB, VIB cho thấy tỷ trọng bán lẻ giảm so với mức đỉnh 2022.

TTTD 8 thang
(Nguồn: Fiinpro, SBV, ShinhanSecurities Vietnam)

Việc các ngân hàng duy trì LDR trên 100% cho thấy nguồn vốn thị trường 1 (từ dân cư và tổ chức kinh tế) khó đủ sức gánh vác tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đang đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật trong mẫu số LDR, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước (SOCBs). Tuy nhiên, tiền gửi Kho bạc là dòng vốn có tính thời vụ và biến động phụ thuộc vào tốc độ giải ngân đầu tư công. Nếu giải ngân đầu tư công tăng tốc mạnh trong nửa cuối 2026, dòng tiền này bị rút ra, áp lực thanh khoản cục bộ sẽ lập tức bị đẩy lên

Một trong những động lực chính khiến ngân hàng "khát" vốn là sự dịch chuyển mạnh mẽ của cơ cấu tín dụng sang kỳ hạn dài. Chuyên gia Phương Nguyễn lưu ý, dư nợ trung - dài hạn đã tăng 11% so với đầu năm, cao hơn hẳn tốc độ tăng của dư nợ ngắn hạn (chỉ tăng 6%).

Tính đến cuối quý 2/2026, dư nợ trung - dài hạn đã chiếm 47,4% tổng dư nợ, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn toàn ngành nhích lên mức 29,16% (vẫn nằm trong trần quy định 40%).

Nguồn vốn dịch chuyển

Theo phân tích từ Chứng khoán Shinhan, nhu cầu vốn trung - dài hạn dự kiến vẫn sẽ neo ở mức cao khi các dự án hạ tầng bước vào giai đoạn đầu tư tiếp theo, trong khi khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động chưa thể thu hẹp đáng kể.

Huy động trong nước chủ yếu là ngắn hạn (CASA hoặc tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng), trong khi đầu ra lại đang dồn vào trung và dài hạn. Dù tỷ lệ 29,16% vẫn an toàn so với mốc 40% của Ngân hàng Nhà nước, nhưng sự gia tăng nhanh chóng của nó đáng lưu ý. Việc các chính sách và hỗ trợ thanh khoản liên tục được đề ra sẽ hỗ trợ chi phí vốn ngắn hạn (Cost of Funds) của các ngân hàng tránh tiếp tục tăng trong 2-3 quý tới, là "chìa khóa" quan trọng để các ngân hàng cân đối.

Với "điểm nghẽn" nhất định từ cấu trúc nội địa, một số ngân hàng đã tạo ra một làn sóng vay vốn tỷ USD: VPBank vay 1,44 tỷ USD, HDBank vay 720 triệu USD, ACB vay 500 triệu USD.... Sắp tới, Techcombank và VIB cũng dự kiến huy động cả tỷ USD từ thị trường ngoại.

Việc tìm đến nguồn vốn ngoại mang lại lợi ích "kép" trong ngắn hạn. Theo ông Nguyễn Dương Phương, ba thương vụ lớn nhất đã bổ sung 2,7 tỷ USD vốn trung - dài hạn, giúp cải thiện đáng kể trạng thái USD của hệ thống và giải tỏa cơn khát vốn cho các dự án.

Tuy nhiên, cùng với đó, nhà phân tích tài chính cũng lưu ý về yếu tố lợi suất trái phiếu chính phủ toàn cầu gia tăng. Nếu Fed hoặc các NHTW lớn neo lãi suất cao lâu hơn dự kiến, chi phí vốn từ nguồn quốc tế sẽ bào mòn biên lãi thuần của các nhà băng. Mặc dù tỷ giá hiện đang ổn định (tạo cơ hội cho NHNN mua USD), nhưng rủi ro tỷ giá đối với các khoản nợ ngoại tệ lớn vẫn là một biến số trong chu kỳ dài hơi.

Cùng với điểm sáng về sự phục hồi NIM lên 3,22% và lợi nhuận tăng 27, 6% (YoY) của các ngân hàng trong quý 2/2026, có thể nói, bài toán cấu trúc nguồn vốn mới là cốt lõi quyết định sức bền của hệ thống. Theo đó, Chứng khoán Shinhan Việt Nam dự phóng kịch bản cơ sở: Lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng niêm yết năm 2026–2027 tăng 16 - 17%. Song trong kịch bản thận trọng, năm 2027 chỉ tăng khoảng 12% nếu chi phí vốn tái định giá đầy đủ và NHTM thực hiện giảm lãi suất cho vay toàn diện.

Với định giá P/B ngành đang ở mức 1.4x, thấp hơn 14% so với trung bình 5 năm, đã phản ánh phần lớn rủi ro, Chứng khoán Shinhan lựa chọn ưu tiên VCB, CTG, BID (an toàn) và VPB, MBB, TCB, HDB là các mã cổ phiếu đại diện cho ngân hàng tăng trưởng.

Lê Mỹ