Chính trị - Xã hội

Chính trị - Xã hội

Từ “vốn mồi” Nhà nước đến nguồn lực thị trường

[ Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội ] 29/08/2026 05:05

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng với kỳ vọng tạo khuôn khổ pháp lý mở đường xây dựng hệ sinh thái đủ mạnh kết nối các nguồn lực,từng bước chuyển hoá các giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế.

Để công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới, cần thiết kế cơ chế “vốn mồi”, đầu tư và hợp tác công - tư đủ linh hoạt; đồng thời mở khóa nguồn lực lớn đang nằm trong không gian công cộng, tài sản công, nhà hát, bảo tàng và di sản nhưng chưa được khai thác tương xứng.

cover1.jpg
Concert "Tổ quốc trong tim" được đông đảo bạn trẻ đón nhận, yêu thích. Ảnh: BTC

Đây là một trong những tồn tại nhiều năm mà dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hoá (dự thảo Luật) đã chạm tới để đưa ra giải pháp đột phá. Không chỉ Nhà nước dành bao nhiêu nguồn lực cho văn hóa mà mỗi đồng vốn công đầu tư có thể kích hoạt được bao nhiêu đồng vốn xã hội.

Nguồn lực Nhà nước dẫn dắt

Một điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của dự thảo Luật là nhìn công nghiệp văn hóa như một hệ sinh thái kinh tế, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, còn doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo trở thành lực lượng chính tạo ra sản phẩm, thị trường và giá trị gia tăng. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy Nhà nước “cấp tiền cho văn hóa” sang sử dụng nguồn lực công để hình thành thị trường, nuôi dưỡng sáng tạo và thu hút nguồn lực xã hội.

Đặc trưng của công nghiệp văn hóa là rủi ro cao ở giai đoạn đầu nhưng có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn khi sản phẩm thành công. Nếu áp dụng máy móc tư duy đầu tư công truyền thống, rất khó khuyến khích đổi mới sáng tạo. Vì vậy, ngân sách Nhà nước cần được sử dụng như “vốn mồi”, ưu tiên hạ tầng sáng tạo, dữ liệu, đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển, tài sản trí tuệ gốc, các dự án có giá trị bản sắc hoặc khả năng lan tỏa cao. Mục tiêu không phải để Nhà nước làm thay doanh nghiệp mà để giảm rủi ro ban đầu và kéo dòng vốn tư nhân cùng tham gia.

Cơ chế đầu tư công - tư vì thế cần trở thành một công cụ quan trọng của Luật. Nhà nước có thể góp vốn đối ứng, đầu tư thông qua quỹ, hỗ trợ một phần chi phí phát triển dự án hoặc thỏa thuận chia sẻ doanh thu, rủi ro theo hợp đồng. Tuy nhiên, nếu đã chấp nhận đồng đầu tư thì phải thiết kế khung quản trị rủi ro phù hợp với kinh tế sáng tạo. Không thể vừa yêu cầu Nhà nước chia sẻ rủi ro, vừa áp dụng máy móc nguyên tắc: mọi khoản đầu tư đều phải bảo toàn như nhau.

Từ quan điểm đó, hiệu quả cần được đánh giá theo danh mục đầu tư thay vì chỉ nhìn từng dự án; xác định trước ngưỡng rủi ro, nguyên tắc xử lý thất bại và trách nhiệm của người ra quyết định. Khi quy trình đúng, minh bạch và dựa trên chuyên môn, cần bảo vệ những người dám thử nghiệm vì lợi ích chung. Các quỹ đồng đầu tư cũng cần có chuyên gia về tài chính, thị trường, công nghệ và sở hữu trí tuệ tham gia thực chất.

Mở khóa nhưng không “tư nhân hóa” giá trị công

Không chỉ có có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú và độc đáo, Việt Nam còn có hệ thống thiết chế văn hoá được đầu tư qua nhiều năm, tạo nền tảng quan trọng cho sáng tạo và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Song, điểm nghẽn lớn nằm ở khai thác tài sản công và tài nguyên văn hóa. Không ít nhà hát, bảo tàng, công trình kiến trúc, không gian công cộng và thiết chế văn hóa có vị trí tốt nhưng hiệu suất sử dụng chưa tương xứng.

Trong khi đó, doanh nghiệp sáng tạo lại thiếu mặt bằng, địa điểm biểu diễn, trưng bày và thử nghiệm mô hình kinh doanh.

Quan trọng nhất cần phân định rõ quyền sở hữu công với quyền khai thác kinh tế. Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp kinh doanh một nhà hát, bảo tàng hay không gian sáng tạo để bảo đảm tài sản đó vẫn thuộc sở hữu Nhà nước.

Nhà nước có thể giữ nguyên quyền sở hữu nhưng trao quyền khai thác có thời hạn cho doanh nghiệp thông qua đấu thầu, nhượng quyền hoặc hợp đồng hợp tác. Doanh nghiệp có quyền tạo doanh thu; Nhà nước nhận tiền thuê, tỷ lệ doanh thu hoặc phần giá trị gia tăng phù hợp. Một phần nguồn thu cần được tái đầu tư cho bảo tồn, tu bổ và nâng cao khả năng tiếp cận văn hóa của người dân.

Muốn vậy, hành lang pháp lý phải trả lời rõ: tài sản công và quyền khai thác được định giá thế nào; hợp đồng có thời hạn bao lâu để doanh nghiệp đủ yên tâm đầu tư; Nhà nước và doanh nghiệp chia sẻ doanh thu, rủi ro theo nguyên tắc nào; quyền tiếp cận của công chúng được bảo đảm ra sao; điều kiện nào dẫn tới chấm dứt hoặc thu hồi quyền khai thác? Quá trình lựa chọn nhà đầu tư và thực hiện hợp đồng phải công khai, có dữ liệu để giám sát và đánh giá định kỳ, tránh việc trao quyền khai thác trở thành đặc quyền kinh doanh trên tài sản công.

Đối với di sản, yêu cầu càng phải chặt chẽ. Khai thác giá trị kinh tế của di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa bằng mọi giá. Cái có thể trao cho doanh nghiệp là quyền cung cấp dịch vụ, phát triển sản phẩm, tổ chức trải nghiệm, số hóa, khai thác thương hiệu hay những quyền thương mại cụ thể; còn quyền sở hữu, tính xác thực, giá trị cốt lõi và lợi ích lâu dài của cộng đồng phải được Nhà nước bảo vệ. Một tỷ lệ hợp lý từ doanh thu khai thác cũng nên quay trở lại cho bảo tồn di sản và cộng đồng chủ thể.

Triết lý quan trọng nhất ở đây là không để tài sản công “an toàn” đến mức không ai dám sử dụng và cuối cùng trở thành tài sản ngủ quên. Bảo vệ tài sản công không đồng nghĩa với khóa tài sản lại, mà là tạo cơ chế để tài sản được sử dụng hiệu quả, sinh ra giá trị mới nhưng lợi ích công vẫn được bảo đảm.

Nếu Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa giải được bài toán này, chúng ta không những huy động thêm nguồn lực cho văn hóa, quan trọng hơn, Luật sẽ kích hoạt nguồn lực vốn đã có sẵn trong xã hội: tài sản công, di sản, không gian đô thị, sức sáng tạo của con người và nguồn vốn của doanh nghiệp. Khi đó, mỗi đồng vốn Nhà nước có thể trở thành một đồng vốn dẫn dắt nhiều đồng vốn xã hội, tạo ra sản phẩm mới, việc làm mới, thị trường mới và những giá trị mới cho văn hóa Việt Nam.

[ Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội ]