Đối ngoại

Đối ngoại

Bài học ứng phó cho cá tra Việt Nam

Trường Đặng 01/09/2026 04:06

Thuế chống bán phá giá tăng mạnh tại Mỹ đặt ngành cá tra Việt Nam trước bài toán dài hạn: giảm lệ thuộc thị trường và nâng giá trị sản phẩm.

ca tra
Cá tra Việt Nam cần đa dạng hóa hơn cơ cấu hàng xuất khẩu, vì hiện nay doanh nghiệp vẫn dựa nhiều vào phi lê đông lạnh. Ảnh: Hoàng Anh

Kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 21 (POR21) đối với cá tra Việt Nam chính thức có hiệu lực tại Mỹ vào ngày 13/8 vừa qua. So với kết quả sơ bộ hồi tháng 2/2026, mức thuế của các doanh nghiệp trong diện rà soát đều tăng đáng kể.

Nhiều doanh nghiệp chịu mức thuế tăng

Công ty TNHH Thủy sản Biển Đông chịu mức thuế 1 USD/kg, so với 0,29 USD/kg trước đó. NTSF chịu mức tăng thuế từ 0,07 lên 0,38 USD/kg. Caseamex và Nam Việt (Navico) cùng chịu mức thuế 0,84 USD/kg, thay vì 0,23 USD/kg tại kết quả sơ bộ. Mức thuế với nhóm doanh nghiệp không đủ điều kiện hưởng thuế suất riêng vẫn là 2,39 USD/kg.

Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã điều chỉnh một số phép tính sau khi xem xét ý kiến phản biện của các bên. Những nội dung được tranh luận liên quan tới giá trị dùng để tính một số nguyên liệu và phụ phẩm, cước vận tải biển, bảo hiểm, chi phí lao động, tỷ lệ tài chính và phương pháp so sánh giá. Do Mỹ vẫn xếp Việt Nam vào nhóm nền kinh tế phi thị trường, nên DOC dùng dữ liệu của một nước thay thế để dựng lên giá trị thông thường thay vì lấy chi phí thực của doanh nghiệp. Cơ chế này khiến biên độ dễ bị thổi phồng và biến động mạnh chỉ sau một vài thay đổi kỹ thuật, như những gì vừa diễn ra.

Thị trường Mỹ khó hơn

Áp lực từ POR21 xuất hiện trong bối cảnh xuất khẩu cá tra sang Mỹ vốn đã suy giảm. Theo VASEP, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá tra Việt Nam vẫn tăng 10%, đạt khoảng 1,3 tỷ USD. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 31%, lên 357 triệu USD. Trái lại, xuất khẩu sang Mỹ giảm 8%, còn 189 triệu USD; riêng tháng 7 giảm tới 28% so với cùng kỳ.

Bên cạnh thuế chống bán phá giá, nhiều mặt hàng Việt Nam hiện còn chịu thêm mức thuế 12,5% theo Mục 301 của Mỹ. Lệnh chống bán phá giá đối với cá phi lê đông lạnh Việt Nam cũng tiếp tục được duy trì sau kỳ rà soát 5 năm của Mỹ hồi tháng 6/2026.

Như vậy, khó khăn không nằm ở một sắc thuế đơn lẻ. Chi phí tiếp cận thị trường Mỹ đang tăng trong khi khả năng dự báo chính sách giảm.

Bất chấp những khó khăn, Mỹ vẫn là thị trường có quy mô lớn, sức mua cao và khả năng hấp thụ nhiều dòng sản phẩm cá tra của Việt Nam. Vấn đề với doanh nghiệp Việt hiện nay là bài toán giảm thiểu tác động đến toàn bộ kế hoạch kinh doanh nếu có những thay đổi chính sách bất ngờ tại Mỹ.

Cách Ấn Độ, Indonesia xoay xở

Ấn Độ và Indonesia chủ yếu xuất khẩu tôm sang Mỹ; xuất khẩu cá tra sang thị trường này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Cách ngành thủy sản của các nước này ứng phó thuế quan từ Mỹ cũng là kinh nghiệm đáng tham khảo cho ngành thủy sản Việt Nam. Sau khi các mức thuế mới làm giảm sức cạnh tranh tại Mỹ từ cuối năm 2025, dòng tôm Ấn Độ dịch chuyển rõ hơn sang các thị trường khác. Theo Shrimp Insights, trong 11 tháng năm 2025, lượng tôm Ấn Độ vào Mỹ giảm 6%, trong khi xuất khẩu sang EU tăng 38%, Trung Quốc tăng 10% và Việt Nam tăng 81%.

Ông Van der Pijl, Nhà sáng lập kiêm Chuyên gia phân tích chính của Shrimp Insights, chia sẻ: "Những con số này củng cố khẳng định từ nhiều nhà chế biến thủy sản lớn của Ấn Độ rằng họ đã và đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tránh thuế quan Mỹ”.

Indonesia cũng đứng trước bài toán tương tự. Mỹ từng chiếm khoảng 60% kim ngạch tôm xuất khẩu của nước này năm 2024. Khi thuế quan Mỹ tăng, các doanh nghiệp và hiệp hội Indonesia bắt đầu tìm khách hàng tại Trung Quốc, đồng thời nhắm tới Trung Đông, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và EU.

Trong khi đó, Việt Nam đang có một nền tảng thuận lợi hơn nhiều quốc gia. Ngoài Mỹ, cá tra đã có thị trường đáng kể tại Trung Quốc, EU, CPTPP, Brazil, Trung Đông và một số nền kinh tế châu Á. Số liệu 7 tháng đầu năm nay cho thấy chính tăng trưởng tại các thị trường khác đang bù lại phần giảm tại Mỹ.

Tuy nhiên, đa dạng hóa cũng không nên được hiểu đơn giản là chuyển phụ thuộc từ Mỹ sang Trung Quốc. Khi Trung Quốc hiện đã là thị trường lớn nhất với 357 triệu USD trong 7 tháng 2025, tập trung thêm quá nhiều vào đây lại tạo ra một dạng rủi ro khác.

Bán giá trị cao hơn

Bên cạnh đa dạng hóa thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu hàng xuất khẩu được cho là những giải pháp khác. Với cá tra Việt Nam, cần tăng cường chế biến sâu, phát triển các dòng sản phẩm đạt chuẩn chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe, qua đó tạo ra lợi thế khác biệt thay vì chỉ cạnh tranh bằng số lượng hay giá rẻ.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa hơn cơ cấu hàng xuất khẩu khi hiện nay vẫn dựa nhiều vào cá tra phi lê đông lạnh. Phi lê là sản phẩm đã tạo nên quy mô cho ngành cá tra, nhưng cạnh tranh ở phân khúc này thường phải tập trung mạnh vào giá. Khi thuế quan, cước vận tải hoặc chi phí đầu vào tăng, biên lợi nhuận dễ bị thu hẹp.

Đặc biệt, tình trạng thuế chồng thuế làm đội giá thành sản phẩm. Do đó, các doanh nghiệp buộc phải tối ưu hóa quy trình sản xuất, tiết giảm chi phí vận hành để giữ giá bán cạnh tranh ngay cả khi chi phí tiếp cận thị trường tăng.

Ngoài ra, các dòng sản phẩm cá tra chế biến, chia khẩu phần, tẩm gia vị, ăn liền hoặc sản phẩm tận dụng phụ phẩm có thể tạo thêm giá trị trên mỗi kilogram nguyên liệu. Chúng cũng sẽ mở ra những phân khúc khác tại Nhật Bản, EU, nhiều quốc gia thành viên CPTPP hoặc hệ thống bán lẻ hiện đại. Do đó, các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội này.

Trường Đặng