Nghiên cứu - Trao đổi
Gỡ điểm nghẽn pháp lý cho doanh nghiệp số
Đối với doanh nghiệp số, một điều luật có thể trở thành hàng nghìn dòng code, vì vậy, khi thiết kế pháp luật, cần tính cả chi phí kiến trúc công nghệ mà doanh nghiệp phải thay đổi để tuân thủ.

Đây là chia sẻ của TS Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam với Diễn đàn Doanh nghiệp.
- Thưa ông, một doanh nghiệp nền tảng hiện có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, theo ông, vấn đề lớn nhất của khung pháp lý đối với kinh tế số hiện nay nằm ở đâu?
Theo tôi, có hai vấn đề cùng tồn tại, đó là pháp luật còn khoảng trống đối với mô hình kinh doanh số mới, đồng thời doanh nghiệp đang phải “đi qua” quá nhiều lớp pháp luật cho cùng một hoạt động.
Tuy nhiên, trọng tâm hiện nay đang chuyển từ “thiếu luật” sang nhiều luật nhưng chưa vận hành như một hệ thống. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ đầu năm 2026; Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ 1/3/2026 và Luật Thương mại điện tử từ 1/7/2026, cho thấy “mật độ” thể chế của kinh tế số đang tăng nhanh.
Có thể thấy, Việt Nam đã bổ sung nhiều khung pháp lý quan trọng cho kinh tế số, do đó với doanh nghiệp nền tảng, khó khăn ngày càng ít nằm ở việc “không có luật”, mà ở chỗ một hoạt động có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật.
Kinh tế số phải bảo vệ người tiêu dùng, dữ liệu cá nhân, cạnh tranh, thuế, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng. Điểm nghẽn xuất hiện khi nghĩa vụ được xây dựng theo từng “ống dọc” quản lý, trong khi sản phẩm số vận hành theo chuỗi giá trị tích hợp. Một quy trình mở tài khoản người bán cũng có thể liên quan đến định danh, dữ liệu cá nhân, thuế, người tiêu dùng và thương mại điện tử.
Các quy định riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng khi áp dụng đồng thời, doanh nghiệp có thể gặp tình trạng nghĩa vụ chồng lấn, khái niệm chưa thống nhất hoặc phải làm việc với nhiều cơ quan quản lý. Theo tôi, đây mới là điểm nghẽn lớn cần xử lý. Doanh nghiệp có thể tuân thủ từng quy định riêng lẻ nhưng vẫn gặp bất định khi các quy định giao nhau. Chi phí không chỉ nằm ở thủ tục mà còn ở thời gian, nguồn lực công nghệ và thời gian đưa sản phẩm mới ra thị trường.
Vì vậy, cải cách pháp luật cho kinh tế số không nhất thiết là giảm số lượng luật, mà cần giảm nghĩa vụ trùng lặp, thống nhất cách hiểu và hạn chế việc doanh nghiệp phải cung cấp cùng một thông tin nhiều lần. Doanh nghiệp vận hành theo hành trình khách hàng, dữ liệu và giao dịch; quản trị pháp lý cũng cần tiến gần hơn tới hành trình đó.
- Theo ông, có cần một cơ chế “một đầu mối pháp lý” cho doanh nghiệp số, để xác định rõ doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định nào và tránh tình trạng mỗi cơ quan đưa ra một yêu cầu riêng?
Theo tôi là cần, nhưng không nên hiểu “một đầu mối” là lập thêm một cơ quan quản lý mới. Cách phù hợp hơn là “một cửa vào cho doanh nghiệp, nhiều cơ quan phối hợp xử lý phía sau”. Nếu doanh nghiệp vẫn phải làm việc với từng cơ quan như hiện nay thì việc thêm một đầu mối chỉ làm tăng thêm tầng nấc.
Có thể nghiên cứu mô hình “một cửa pháp lý số” (Digital Regulatory Single Window). Doanh nghiệp chỉ cần cung cấp một lần thông tin về mô hình kinh doanh, dữ liệu xử lý, dòng tiền, giao dịch, công nghệ và yếu tố xuyên biên giới. Trên cơ sở đó, đầu mối tiếp nhận có trách nhiệm xác định các quy định liên quan, nghĩa vụ doanh nghiệp phải thực hiện, cơ quan có thẩm quyền và cách thức tuân thủ.
.jpg)
Quan trọng hơn, cơ chế này cần có “bản đồ tuân thủ” số, giúp doanh nghiệp biết ngay từ khi thiết kế sản phẩm mình phải đáp ứng những yêu cầu pháp lý nào; đồng thời hình thành nguyên tắc “một doanh nghiệp – một hồ sơ tuân thủ”, thông tin Nhà nước đã có thì không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại. Với những vấn đề liên quan nhiều lĩnh vực, các cơ quan cần phối hợp để đưa ra một ý kiến thống nhất thay vì để doanh nghiệp tự ghép nhiều quy định.
Giá trị lớn nhất của một cửa pháp lý không chỉ là giảm thủ tục, mà là giảm bất định pháp lý. Doanh nghiệp số thường phải đầu tư trước vào công nghệ, dữ liệu và hạ tầng. Nếu không biết rõ mô hình của mình được pháp luật phân loại thế nào và phải tuân thủ đến đâu, doanh nghiệp có thể trì hoãn hoặc thu hẹp đầu tư.
Định hướng này cũng phù hợp với chủ trương cải thiện môi trường kinh doanh. Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu mạnh về cắt giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và điều kiện kinh doanh. Một cửa pháp lý số có thể là bước phát triển tiếp theo của tinh thần cải cách đó.
- Khi pháp luật thay đổi, doanh nghiệp số có thể phải sửa cả hệ thống công nghệ chứ không chỉ quy trình. Chi phí này đã được tính đầy đủ khi xây dựng chính sách chưa và cần cơ chế nào để tránh việc mỗi luật mới lại khiến doanh nghiệp phải “thiết kế lại” hệ thống, thưa ông?
Chi phí tuân thủ số chưa được nhìn nhận đầy đủ như một cấu phần riêng trong quá trình xây dựng chính sách. Đánh giá tác động chính sách hiện đã tính đến chi phí, lợi ích và ảnh hưởng đối với doanh nghiệp, nhưng cách tiếp cận thường dễ nhận diện các chi phí hành chính như thời gian, hồ sơ, nhân sự hay lệ phí.
Trong khi đó, với doanh nghiệp số, chi phí tuân thủ có thể nằm sâu trong chính hệ thống công nghệ. Với doanh nghiệp nền tảng, một yêu cầu mới về định danh, lưu trữ dữ liệu, sự đồng ý của người dùng hay trách nhiệm nền tảng có thể buộc doanh nghiệp sửa ứng dụng, cơ sở dữ liệu, API, thuật toán, hệ thống phân quyền, nhật ký truy cập, hợp đồng với nhà cung cấp và trải nghiệm người dùng. Sau đó còn có kiểm thử, di chuyển dữ liệu và đào tạo nhân sự.
Vì thế, một điều khoản pháp luật có thể chuyển hóa thành hàng nghìn dòng code và nhiều tháng công việc kỹ thuật.
Theo tôi, cần bổ sung đánh giá tác động tuân thủ số đối với những chính sách có ảnh hưởng đáng kể đến doanh nghiệp công nghệ. Khi xây dựng quy định, cơ quan soạn thảo cần tính trước hệ thống nào phải thay đổi, có phải di chuyển dữ liệu hay sửa API, bảo mật, thuật toán không; doanh nghiệp nhỏ và startup chịu chi phí thế nào và cần bao nhiêu thời gian để chuyển đổi.
Cùng với đó, cần thúc đẩy nguyên tắc “tuân thủ ngay từ khâu thiết kế” (compliance by design). Các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn dữ liệu, kết nối và báo cáo cần được công bố đủ sớm để doanh nghiệp có thể tích hợp ngay trong quá trình phát triển sản phẩm. Với những thay đổi lớn, thời gian chuyển tiếp cũng phải tương xứng với mức độ thay đổi của hệ thống.
Tôi cũng cho rằng cần tăng tính dự báo của pháp luật, chẳng hạn có kế hoạch hoặc “lịch phát hành quy định” tương đối ổn định đối với các nghĩa vụ kỹ thuật lớn. Khi biết trước yêu cầu và thời điểm áp dụng, doanh nghiệp có thể chủ động ngân sách, nhân sự và kế hoạch công nghệ, thay vì liên tục phải sửa hệ thống để chạy theo quy định.
- Trân trọng cảm ơn ông!