Tín dụng - Ngân hàng
Thách thức xử lý nợ xấu cuối năm
Áp lực lãi suất, chi phí vốn và nhu cầu tín dụng trung, dài hạn mở rộng trong khi chất lượng tài sản suy giảm là những tín hiệu gây áp lực cho nợ xấu ngân hàng nửa cuối năm nay.

Trong bối cảnh lãi suất duy trì mức cao, ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 vẫn duy trì tăng trưởng tín dụng tích cực và kết quả lợi nhuận lạc quan. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành lên mức cao kỷ lục quý II kể từ năm 2020.
Áp lực nợ xấu dần hiện hữu
Thống kê của SSI Research ghi nhận chất lượng tài sản có sự phân hóa giữa các ngân hàng, trong khi những dấu hiệu suy yếu dần xuất hiện. Theo đó, nợ xấu toàn ngành ngân hàng đã tăng 21,4% tính từ đầu năm nay (tăng 9,5% so với quý trước). Mức tăng chủ yếu tập trung tại CTG (tăng 21,8% so với quý trước), STB (tăng 15,6% so với quý trước), HDB (tăng 17,6% so với quý trước) và BID (tăng 7,2% so với trước). Trong khi phần lớn các ngân hàng khác tương đối ổn định.
Theo đó, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97% trong quý II/2026 (so với 1,88% trong quý I/2026) - là mức tăng cao nhất của quý 2 kể từ năm 2020. Nợ nhóm 2 cũng tăng đáng kể 31,6% tính từ đầu năm nay (tăng 17,5% so với quý trước), dẫn đầu bởi STB (gấp 2,8 lần so với quý trước), HDB (gấp 2,0 lần so với quý trước) và VPB (tăng 13,7% lần so với quý trước).
Tương tự với chi phí dự phòng, trong khi các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, thì nhóm NHTMCP lại tăng mạnh 33% so với quý trước, chủ yếu đến từ STB (tăng 152% so với quý trước), HDB (tăng 104% so với quý trước), OCB (tăng 85% so với quý trước) và ACB (tăng 55% so với quý trước). Theo đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm xuống 83% trong quý II/2026, từ 86% trong quý I/2026 và 95% trong quý II/2025.
Theo VIS Rating, danh mục khách hàng ít đa dạng là một trong những nguyên nhân dẫn tới phân hóa chất lượng tài sản, và rủi ro tài sản theo đó đã theo phân khúc khách hàng cá nhân lan rộng từ ngân hàng nhỏ và vừa (như OCB, LPB, SGB, VAB, KLB, ABB) sang một số ngân hàng lớn, như TCB, đặc biệt là đối với các khoản vay mua nhà và/hoặc hộ kinh doanh.
Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, với quy mô dư nợ toàn hệ thống hơn 20,5 triệu tỷ đồng, chỉ cần nợ xấu tăng 1%, hệ thống sẽ phải xử lý thêm khoảng hơn 200.000 tỷ đồng, ảnh hưởng rất lớn đối với dòng vốn của nền kinh tế.
Biến số nào cho xử lý nợ xấu?
Hai nguyên nhân được các chuyên gia chỉ ra, đã gây áp lực lên chất lượng tài sản ngân hàng, là nhu cầu vốn trong bối cảnh chênh lệch huy động - dư nợ cao gây căng thẳng thanh khoản và dẫn đến mặt bằng lãi suất tăng cao để đẩy mạnh huy động bù đắp chênh lệch. Cùng với đó, tác động cuả bối cảnh vĩ mô toàn cầu với biến động giá năng lượng, nguyên vật liệu, chi phí logistics, chính sách thuế quan... khiến nhiều ngành hàng gặp khó, ảnh hưởng lên thu nhập khả dụng và khả năng trả nợ... Đặc biệt, lĩnh vực bất động sản dù được khơi thông pháp lý, nguồn cung, có sự thuận lợi và những cú hích chính sách, hạ tầng..., song lực cầu trên thị trường tỷ lệ nghịch với lãi suất.
TS Châu Đinh Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP HCM cho rằng, triển vọng nợ xấu trong thời gian tới còn tuỳ thuộc vào diễn biến của kinh tế vĩ mô, biến động của từng lĩnh vực cũng như kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Song, ông lưu ý nếu nợ xấu có tính tập trung vào các ngân hàng có quy mô vốn nhỏ và trung bình, đây sẽ là vấn đề đáng ngại.
Bà Nguyễn Thu Hà, Giám đốc phân tích chứng khoán SSI vẫn duy trì quan điểm thận trọng đối với chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026. Theo đó, SSI nhấn mạnh về yếu tố mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao 12 - 15%/năm, đặc biệt ở phân khúc vay mua nhà, và khả năng vỡ nợ chéo giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) thông qua dữ liệu CIC trong những quý tới.
Một số tín hiệu về lãi suất và thanh khoản ngân hàng gần nhất sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các động thái chính sách của NHNN, từ kích thích vốn vào SMEs đến hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, đã bắt đầu “bắt” tín hiệu mới về một mặt bằng có thể “dịu đi”. Vietcombank vừa công bố lãi suất cho vay mua nhà ưu đãi với kỳ hạn lên tới 30 năm. Các ngân hàng tăng tốc huy động vốn ngoại, lãi suất USD ở mức phù hợp hơn. Hay lãi suất trái phiếu cũng đã bắt đầu ghi nhận giảm điểm phần trăm so với tháng trước... Điều kiện để cân đối nguồn vốn và tiến về mặt bằng lãi suất thấp hơn với thanh khoản ổn định theo đó có thể là một trong những “chìa khóa” dỡ bỏ áp lực hay rủi ro tài sản nợ quá hạn lây lan.
Bên cạnh đó, từ phía cho vay, các TCTD cũng kỳ vọng có các quy định phù hợp thúc đẩy sự tham gia của các bên để được thực thi luật hóa cơ chế thu giữ tài sản bảo đảm, giúp xử lý nhanh hơn những khoản nợ phát sinh, làm nhẹ gánh nặng của TCTD và tiếp tục lành mạnh hóa sức khỏe toàn hệ thống. Qua đó, vừa đảm bảo quyền lợi cho bên vay - cho vay, lẫn điều kiện để ngân hàng tiếp tục mở rộng cho vay như yêu cầu cao trong giai đoạn mới.