Chứng khoán

Chứng khoán

Kỳ vọng cải thiện hiệu suất danh mục đầu tư tăng trưởng

An Định 01/09/2026 04:05

Với triển vọng dài hạn, nhằm giảm rủi ro do biến động và dòng tiền chưa mạnh, danh mục đầu tư tăng trưởng với các doanh nghiệp nội tại vững chắc vẫn được khuyến nghị ưu tiên.

Danh mục đầu tư tăng trưởng được thiết kế nhằm hướng tới mục tiêu đạt được tỷ suất lợi nhuận hấp dẫn hơn so với lợi nhuận trung bình của VN-Index và có thể trải qua mức độ biến động cao.

Nhà đầu tư được khuyến nghị xây dựng danh mục đầu tư tăng trưởng với việc tuân thủ kỷ luật, bám sát mục tiêu đầu tư và tận dụng những giai đoạn định giá hấp dẫn để tích lũy tài sản cho tương lai. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)
Nhà đầu tư được khuyến nghị xây dựng danh mục đầu tư tăng trưởng với việc tuân thủ kỷ luật, bám sát mục tiêu đầu tư và tận dụng những giai đoạn định giá hấp dẫn để tích lũy tài sản cho tương lai. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)

Theo lựa chọn danh mục đầu tư tăng trưởng của Chứng khoán Shinhan (SSV), những cổ phiếu trong danh mục với những tiêu chí: Công ty có mức tăng trưởng lợi nhuận bền vững qua các năm; Công ty có thể ghi nhận lợi nhuận đột phá; Có nền tảng tài chính vững mạnh và được quản trị tốt; Tiếp tục tăng trưởng bền vững trong tương lai là những cổ phiếu có thể được nhà đầu tư đánh giá để xây dựng "rổ cổ phiếu" của mình, phù hợp với kỳ vọng đầu tư tăng trưởng và hướng về các động lực dài hạn của thị trường.

Tăng trưởng lợi nhuận chưa phản ánh vào giá

Theo đó, bà Nguyễn Phương Thảo, SSV Research cho biết, danh mục đầu tư tăng trưởng được lựa chọn gồm các cổ phiếu VPB, HDB, TCB, MBB (nhóm ngân hàng), FPT (CNTT), GMD (cảng biển), HPG (thép/ đầu tư công), MWG (bán lẻ).

Danh mục tăng trưởng theo diễn biến dữ liệu tính đến 20/8/2026 ghi nhận đạt tỷ suất lợi nhuận giảm gần 2,4% YTD chủ yếu do diễn biến thị trường chung và áp lực bán ròng mạnh của khối ngoại. GMD là cổ phiếu duy nhất đóng góp hiệu suất tích cực, với mức tăng 32,6% YTD, trong khi diễn biến của các cổ phiếu còn lại chưa phản ảnh tương xứng với nền tảng cơ bản.

Theo bà Phương Thảo, kết quả kinh doanh nửa đầu năm2026 của danh mục tiếp tục ghi nhận tăng trưởng mạnh, với tổng doanh thu tăng 54,8% YoY và lợi nhuận ròng tăng 43,8% YoY, trong đó tăng trưởng được ghi nhận trên tất cả các nhóm ngành. Tuy nhiên, đà tăng trưởng lợi nhuận chưa được phản ánh tương xứng vào giá cổ phiếu, tạo dư địa cho quá trình định giá lại khi tâm lý thị trường cải thiện.

Các động lực hỗ trợ cải thiện hiệu suất đầu tư

Do đó, chuyên gia phân tích kỳ vọng danh mục sẽ cải thiện hiệu suất trong nửa cuối năm 2026, nhờ các động lực chính.

Nhóm ngân hàng (TCB, MBB, VPB, HDB): tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tích cực, trong khi xu hướng khối ngoại đảo chiều sang mua ròng từ tháng 8 có thể hỗ trợ định giá nhóm ngân hàng.

Nhóm đầu tư công (HPG): tiến độ giải ngân được kỳ vọng bước vào giai đoạn tăng tốc, tạo động lực trực tiếp cho nhu cầu thép và vật liệu xây dựng.

Nhóm bán lẻ (MWG): mặt bằng lãi suất hạ nhiệt được kỳ vọng cải thiện sức mua và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng.

Đầu tư tăng trưởng nhóm ngân hàng, lựa chọn gì?

Trong danh mục gắn liền các động lực, những cổ phiếu nổi bật có sức hút dòng tiền và triển vọng nâng hạng thuộc nhóm ngân hàng.

Theo đánh giá, VPB hiện là một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất Việt Nam. Sau thương vụ hợp tác với SMBC, VPBank là NHTM có vốn chủ sở hữu lớn thứ hai Việt Nam, đứng sau VCB. Điều này giúp ngân hàng tiếp cận được nhiều phân khúc khách hàng, bao gồm: khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và doanh nghiệp FDI.

4 NH
Nhóm ngân hàng (TCB, MBB, VPB, HDB) tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tích cực, trong khi xu hướng khối ngoại đảo chiều sang mua ròng từ tháng 8 có thể hỗ trợ định giá nhóm ngân hàng. (Ảnh minh họa)

Kết thúc bán niên 2026, VPB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 43,4 nghìn tỷ đồng (+35% YoY). Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 18,9 nghìn tỷ đồng (+68% YoY), đạt 48% kế hoạch đề ra. Động lực tăng trưởng đến từ dư nợ tín dụng mở rộng mạnh, thu nhập lãi thuần tăng, phí dịch vụ phục hồi và đóng góp ngày càng lớn của VPBankS, OPES cùng các thành viên trong hệ sinh thái.

Dư nợ cấp tín dụng tại ngân hàng mẹ đạt gần 1,05 triệu tỷ đồng tại cuối tháng 6/2026, tăng 24,6% so với đầu năm và tăng 12,6% chỉ trong quý II. Phân khúc khách hàng doanh nghiệp, bao gồm SME, tiếp tục là động lực chính. Tổng huy động tại ngân hàng mẹ đạt khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 21,5% từ đầu năm và 10,3% so với quý trước.

NIM của ngân hàng mẹ đạt 4,54%, gần như đi ngang so với mức 4,55% trong quý 1 nhưng thấp hơn 28 điểm cơ bản so với cuối năm 2025. NIM của VPB đi ngang trong bối cảnh chi phí vốn tăng được nhận định có thể xem là kết quả tương đối tích cực. Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý nếu chi phí huy động tiếp tục tăng trong nửa cuối năm, khả năng duy trì NIM quanh 4,5% sẽ là một thách thức.

Tại 30/6, VPB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ theo Thông tư 31 ở mức 2,03%, tương đương cuối năm 2025 và cao hơn mức 1,82% của cùng kỳ năm trước. Nợ xấu chưa tăng mạnh dù tín dụng mở rộng nhanh là tín hiệu tương đối tích cực. Tuy nhiên, tỷ lệ 2,03% vẫn cao hơn một số ngân hàng có chiến lược tín dụng thận trọng hơn.

FE Credit ghi nhận lợi nhuận trước thuế khoảng 153 tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm 2026. Trong đó, lợi nhuận quý II ước đạt gần 75 tỷ đồng. Như vậy, FE Credit đã chuyển từ giai đoạn thua lỗ sang duy trì lợi nhuận dương. Đây là điểm cải thiện quan trọng so với thời kỳ khó khăn trước đây. Tuy nhiên, mức lợi nhuận 6 tháng mới chỉ hoàn thành khoảng 13% kế hoạch năm. Chi phí dự phòng vẫn gần bằng toàn bộ lợi nhuận trước dự phòng, cho thấy chất lượng tài sản chưa phục hồi hoàn toàn.

Các yếu tố đánh giá về rủi ro của tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp nếu NIM tiếp tục suy giảm; cùng với đó là khả năng thu hồi nợ không như kỳ vọng.

HDB cũng là một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất Việt Nam. HDB hướng tới mục tiêu trở thành ngân hàng dẫn đầu về bản lẻ, tiêu dùng và doanh nghiệp SME. HDB sẽ đẩy mạnh tiếp cận khách hàng khu vực nông nghiệp và nông thôn thông qua chuyển đổi số để phát triển thị trường này. Không những thế, HDB cũng sẽ tập trung phát triển phân khúc trung và cao cấp - priority banking trong thời gian tới.

Nửa đầu 2026, HDBank có tổng thu nhập hoạt động hợp nhất đạt 22,7 nghìn tỷ đồng (+9% YoY), lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 13 nghìn tỷ đồng (+31% YoY).

Dư nợ tín dụng đạt 698 nghìn tỷ đồng, tăng 18,76%, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế như sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp, hạ tầng, chuỗi cung ứng và tiêu dùng thiết yếu. Huy động vốn đạt 932 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1%, trong đó tiền gửi từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trên 20%.

Trong 6 tháng đầu năm, HDBank ghi nhận NIM cải thiện so với quý trước. Riêng trong quý II, NIM đạt 4,11% (+32 bps QoQ, -158 bps YoY), chủ yếu nhờ tác động tái định giá lợi suất tích cực hơn, đóng góp từ phân khúc bán lẻ được cải thiện (đặc biệt là các khoản cho vay khách hàng cá nhân/hộ gia đình), tăng trưởng cho vay trung và dài hạn, cùng với việc tiếp tục tối ưu LDR.

HDB có hệ số chi phí trên thu nhập (CIR) giảm còn 24,9%, thuộc nhóm thấp nhất trong các ngân hàng tư nhân, phản ánh hiệu quả của chiến lược chuyển đổi số, tự động hóa vận hành và nâng cao năng suất.

Bên cạnh đó, các đơn vị thành viên tiếp tục ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực: Các công ty con đóng góp đáng kể vào lợi nhuận. SSV ước tính tổng lợi nhuận đóng góp từ các công ty con đạt khoảng 2,3 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 17% lợi nhuận hợp nhất trong 1H/2026. Đây là quý đầu tiên HDB hợp nhất HD Securities, với công ty con này ghi nhận 1,5 nghìn tỷ đồng LNTT (+286% YoY; ROE 28%). Trong khi đó, HD SAISON đạt hơn 804 tỷ đồng LNTT (ROE 22%).

Rủi ro đối với tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng có thể xảy ra khi tăng trưởng tín dụng không đạt như kỳ vọng. Ngoài ra, NIM tiếp tục thu hẹp do chi phí vốn gia tăng và mảng bán lẻ phục hồi chậm, và (nếu) mặt bằng lãi suất tăng cao gây áp lực lên chất lượng tài sản.

Đối với trường hợp TCB - một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất ở Việt Nam, nhà băng này luôn chú trọng phát triển công nghệ để dẫn đầu trong hành trình số hóa của ngành tài chính. TCB tập trung phát triển ở phân khúc cho vay phát triển bất động sản và vay mua nhà, chúng tôi đánh giá về tương lai đây là phân khúc còn nhiều tiềm năng phát triển. Techcombank đặt mục tiêu lọt vào top 10 ngân hàng tốt nhất khu vực ASEAN, với vốn hóa thị trường đạt 20 tỷ USD, CASA đạt 55% vào năm 2025.

Theo BCTC, tổng thu nhập hoạt động hợp nhất của TCB nửa đầu 2026 đạt 28,6 nghìn tỷ đồng (+17,5% YoY), lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 18,5 nghìn tỷ đồng (+22,5% YoY).

Tín dụng tại ngân hàng mẹ tăng 11,6% so với đầu năm theo cách tính hạn mức của Ngân hàng Nhà nước. Nếu tính cả các khoản tài trợ hạ tầng và nhà ở xã hội được miễn hạn mức, tăng trưởng tín dụng đạt 14.3%. Điều này cho thấy nhu cầu tín dụng tăng tốc rõ rệt trong quý II.

Tỷ lệ CASA của TCB đạt 38,3% vào cuối quý II/2026, tăng nhẹ so với mức 37,9% của quý trước nhưng thấp hơn mức 41,1% tại quý II/2025. Trong nửa đầu năm, CASA cá nhân của Techcombank giảm 14% do khách hàng chuyển một phần tiền sang các sản phẩm có kỳ hạn trong môi trường lãi suất tiền gửi cao. Ngược lại, CASA doanh nghiệp tăng 23%, được hỗ trợ bởi hoạt động ngân hàng giao dịch. Đây là lợi thế quan trọng của TCB cho hoạt động nửa cuối năm.

NIM riêng quý II/2026 của TCB đạt 3,4% (+29 bps QoQ, -10 bps YoY), được cải thiện nhờ lợi suất tài sản tăng, danh mục tín dụng được tối ưu và các khoản vay được tái định giá.

Tỷ lệ nợ xấu của TCB đạt 1,15% vào cuối quý II/2026, giảm nhẹ so với mức 1,16% của quý trước và thấp hơn mức 1,32% tại quý II/2025. Việc tỷ lệ nợ xấu giảm trong khi tín dụng tăng nhanh cho thấy chất lượng tài sản tại thời điểm cuối quý vẫn được kiểm soát.

Theo dữ liệu, ROE của TCB đạt 16%, cao hơn mức 14,5% cùng kỳ, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện. Thu nhập ngoài lãi tăng cũng giúp cơ cấu lợi nhuận trở nên cân bằng hơn.

Tương tự như các nhà băng, rủi ro đáng chú ý với TCB xảy ra khi chi phí vốn tăng mạnh gây áp lực lên NIM. Bên cạnh đó, lãi suất tăng mạnh làm suy giảm chất lượng tài sản của ngành ngân hàng.

Trong danh mục, MBB nổi bật với định hình của một nhà băng có thể hiện chất lượng tài sản ổn định, lợi nhuận vượt trội cùng với xếp hạng tín nhiệm được đánh giá cao bởi các tổ chức xếp hạng quốc tế. MBB tiếp tục tập trung phát triển CNTT, chuyển đổi số hướng tới mục tiêu trở thành toanh nghiệp số, Tập đoàn tài chính dẫn đầu.

MBB cũng ghi nhận các KQKD tích cực nửa đầu năm với tổng thu nhập hoạt động đạt 37,9 nghìn tỷ đồng (+16% YoY), LNTT đạt 20,2 nghìn tỷ đồng (+27% YoY).

Tăng trưởng tín dụng đạt 13,2%, cao hơn đáng kể mức 8,5% của toàn hệ thống. Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng mẹ chủ yếu được thúc đẩy bởi cho vay bất động sản và dịch vụ hộ gia đình, cùng với các phân khúc sản xuất, chế biến và thương mại đa dạng.

Tiền gửi khách hàng của MBB ghi nhận chỉ tăng 4,6%, trong khi giấy tờ có giá tăng 24,7%, qua đó hỗ trợ đáng kể năng lực huy động vốn. Tỷ lệ CASA phục hồi nhẹ lên 34,6% (+1,5 bps QoQ; -3,3 bps YoY), cao thứ hai trong hệ thống chỉ sau TCB, giúp phần nào giảm áp lực gia tăng chi phí vốn từ nguồn huy động qua giấy tờ có giá.

NIM quý II phục hồi lên 4,15% (+35 bps QoQ; +1 bps YoY), khi lợi suất tài sản sinh lời (IEA) cải thiện nhiều hơn mức gia tăng của chi phí vốn. Tuy nhiên, để duy trì NIM ở mức của quý II, ngân hàng sẽ cần tiếp tục điều chỉnh lại lợi suất tài sản trong bối cảnh chi phí vốn vẫn chịu áp lực tăng. Điều này được cho sẽ khó khăn hơn nếu MBB muốn sử dụng hết hạn mức tín dụng ưu đãi trong năm nay (tham vọng của ngân hàng tăng trưởng tín dụng sẽ đạt hơn 35%).

Hiệu quả hoạt động của MBB tiếp tục được phản ánh qua các chỉ số tài chính. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) hợp nhất ở mức 26,24%, còn CIR riêng lẻ chỉ 24,17%, thấp hơn từ 2% đến 2,7% so với năm trước. Đây là mức CIR thuộc nhóm thấp nhất trong hệ thống ngân hàng, cho thấy MB đang vận hành hiệu quả nhờ tối ưu quy trình, ứng dụng công nghệ và quản trị chi phí chặt chẽ.

Những rủi ro đáng chú ý từ phía thanh khoản hệ thống ngân hàng nếu tiếp tục gặp áp lực và làm giảm NIM. Cùng với đó, lãi suất cho vay tăng có thể gây áp lực lên chất lượng tài sản của ngân hàng trong các năm tiếp theo.

An Định