Tín dụng - Ngân hàng
Biên lãi thuần ngân hàng nửa cuối năm: Sẽ tiếp tục phục hồi?
Biên lãi thuần (NIM) của các ngân hàng nửa đầu năm đã phục hồi tích cực, tăng lên 3,15% nhờ kéo dài kỳ hạn cho vay. Xu hướng này sẽ tiếp tục trong nửa cuối năm?
Theo báo cáo tài chính của 27 ngân hàng, các ngân hàng đã tăng tổng tài sản trong quý II/2026 mức +20% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,73% so với đầu năm.
NIM phân hóa theo mức độ kiểm soát chi phí vốn
Tổng hợp của NSI ghi nhận, dù quy mô tài sản tăng nhanh nhưng hiệu quả sinh lời giữa các nhóm ngân hàng vẫn có sự chênh lệch đáng kể. Các ngân hàng phải cạnh tranh huy động vốn dẫn đến khả năng kiểm soát chi phí vốn (COF), có thể tiếp tục trở thành yếu tố quyết định mức độ phân hóa lợi nhuận. Do chênh lệch huy động - tín dụng, cạnh tranh vốn tạo áp lực lên COF và biên lãi thuần (NIM).

Theo đó, NSI cho rằng, tùy mức độ cạnh tranh và kiểm soát chi phí vốn, có mức độ phân hóa NIM giữa các ngân hàng.
Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn từng duy trì NIM khoảng 3,7% vào cuối năm 2024 và đầu năm 2025. Tuy nhiên, chỉ tiêu này liên tục thu hẹp sau đó và đạt khoảng 3,1% trong quý II/2026.
Ở nhóm ngân hàng nhỏ, NIM chủ yếu dao động quanh vùng 2,1-2,4% và đạt khoảng 2,3-2,4% trong quý II. Ngược lại, NIM của nhóm ngân hàng quốc doanh có dấu hiệu phục hồi. Sau khi giảm về quanh 2,1-2,2% vào cuối năm 2025, chỉ tiêu này tăng trở lại lên khoảng 2,4% vào quý II/2026.
Điều này phản ánh rõ lợi thế cơ cấu nguồn vốn ổn định của nhóm ngân hàng có vốn quốc doanh. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần phải đối mặt rõ hơn với áp lực cạnh tranh tiền gửi khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao.
Mức độ phân hóa tiếp tục sâu hơn ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, với khả năng bảo vệ NIM cũng khác nhau. Những ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao như TCB và MBB được đánh giá có lợi thế hơn trong việc kiểm soát chi phí vốn.
Chi tiết hơn từ dữ liệu BCTC của một số ngân hàng, NIM cao nhất trong 27 ngân hàng nửa đầu năm thuộc về VPB (5,31%), cao gần 2,9 lần NVB (1,83%). Nhóm VPB, HDB, MBB, TCB,KLB tạo ra khoảng cách rất lớn so với Big 4 và nhóm ngân hàng nhỏ.
Ở thống kê của mình, YSVN cũng đưa ra những con số tương tự: NIM quy năm của 27 ngân hàng cải thiện +16 điểm cơ bản (bps) QoQ, lên 3,15% trong quý II/2026, nhờ tái định giá các khoản cho vay. Tuy nhiên, NIM vẫn giảm -10 bps YoY, cho thấy chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản trong cùng kỳ.
Ông Trần Văn Tánh, Trưởng phòng Phân tích, Khối Khách hàng tổ chức của YSVN chỉ ra, lợi suất tài sản (asset yield) toàn ngành tăng 92 bps YoY, lên 7,70%, trong khi chi phí vốn (COF) tăng 105 bps YoY, lên 4,79% trong quý II/2026.
Theo ông Tánh, NIM được hỗ trợ không phải nhờ giảm chi phí vốn, mà chủ yếu nhờ tái định giá các khoản cho vay và kéo dài kỳ hạn. Dư nợ dài hạn tăng lên 33,1% tổng danh mục cho vay, so với 30,4% cùng kỳ năm ngoái, trong khi tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng lên 40%, từ mức 30% trước đây.
Bên cạnh đó, CASA cũng là một lợi thế cạnh tranh cốt lõi, nhưng khoảng cách đang dần thu hẹp. Tỷ lệ CASA toàn ngành giảm 121 bps YoY, xuống 20,9%, trong đó mức sụt giảm mạnh nhất ghi nhận tại VIB (-487 bps), MSB (-368 bps), MBB (-329 bps) và VCB (-304 bps).
MBB (34,6%), TCB (35,0%) và VCB (33,9%) tiếp tục là những ngân hàng lớn duy trì tỷ lệ CASA trên 30%, đồng thời cả ba đều bảo vệ được NIM theo quý trong quý II/2026.
"Dù vậy, điểm khác biệt quan trọng hiện nay không chỉ nằm ở quy mô CASA, mà còn ở tính bền vững của dòng tiền gửi này", ông Tánh nhấn mạnh.
NIM nửa cuối năm ra sao?
Với mặt bằng tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) hiện tại, NSI cho rằng NIM toàn ngành trong nửa cuối năm khó phục hồi mạnh và sự phân hóa giữa các ngân hàng có thể tiếp tục gia tăng.

LDR trong nửa đầu năm của nhóm ngân hàng TMCP lớn đã tăng từ khoảng 94% trong quý I lên 96% vào quý II/2026. Trước đó, tỷ lệ này đã duy trì ở vùng cao, khoảng 92-95% trong hai quý cuối năm 2025.
Nhóm ngân hàng quốc doanh có LDR khoảng 89,6% trong quý II, tăng nhẹ từ 89% của quý trước. Nhóm ngân hàng nhỏ ở mức thấp hơn đáng kể, khoảng 79%.
LDR tăng cho thấy dư địa sử dụng nguồn vốn huy động cho tín dụng đang ngày càng thu hẹp tại một số nhóm ngân hàng. Khi tín dụng mở rộng nhanh nhưng tăng trưởng tiền gửi không theo kịp, cạnh tranh huy động có thể gia tăng, từ đó tạo áp lực lên chi phí vốn và biên lãi thuần.
Tuy nhiên, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, sẽ thay đổi về mặt bằng LDR so với cuối quý II, cũng như thay đổi áp lực lên NIM. Các ngân hàng theo đó sẽ thuận lợi hơn nhờ các quy định "nới lỏng" từ nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lẫn tính tổng tiền gửi dùng để tính LDR.
Đặc biệt, các ngân hàng thương mại có vốn quốc doanh, nắm giữ phần lớn tiền gửi Kho bạc Nhà nước là VCB, BID và CTD, sẽ thuận lợi hơn khi tính tiền gửi này theo tỷ lệ được cho phép vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR. Qua đó, mở thêm dư địa mở rộng cho vay của các TCTD.
Dù vậy, Trưởng phòng Phân tích YSVN nhận định, việc gia tăng tỷ lệ vốn ngân hàng cho vay chỉ nên xem là biện pháp hỗ trợ tạm thời, hơn là động lực tăng trưởng có thể duy trì bền vững.
"Mặc dù việc nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% (từ mức 30%) giúp giải tỏa áp lực bảng cân đối, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và NIM. Chúng tôi cho rằng NHNN nhiều khả năng vẫn duy trì mục tiêu dài hạn là giảm rủi ro lệch pha kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng, đồng nghĩa với việc tỷ lệ này có thể sẽ được điều chỉnh giảm trở lại mức 30% khi điều kiện thị trường cho phép.
Vì vậy, chính sách hiện tại nên được coi là cú hích ngắn hạn cho đà tăng trưởng tín dụng và NIM thay vì một yếu tố hỗ trợ lâu dài. Các ngân hàng sở hữu lợi thế CASA mạnh hơn (MBB, VCB và TCB) vẫn sẽ tiếp tục ở vị thế tốt hơn về chi phí vốn và NIM", ông Trần Văn Tánh nhận định.
Lưu ý thêm rằng, NIM cải thiện và tốt hơn, không có nghĩa luôn đồng nghĩa với chất lượng lợi nhuận tốt. Từ mức độ cải thiện, phục hồi NIM đến sự ổn định, độ bền, luôn được đánh giá cao hơn và hàm ý theo dõi những trường hợp khác. Điều này đã được minh chứng khá rõ trong thực tế từ kết quả kinh doanh nửa đầu 2026 của một số ngân hàng khi xuất hiện nhà băng có tỷ lệ NIM cao nhưng trích lập dự phòng cũng cao (STB) , hay có ngân hàng NIM khá nhưng cũng chịu áp lực mạnh từ COF (VIB), NIM ổn định nhưng tỷ trọng nguồn vốn phụ thuộc thị trường cao (LPB)...