Nghiên cứu - Trao đổi
Doanh nghiệp ngừng hoạt động nhiều năm: Cần cơ chế xử lý dứt điểm
Gần 292.000 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất giải thể. Thực trạng này đặt ra yêu cầu có cơ chế phù hợp để xử lý những hồ sơ tồn đọng kéo dài.
Theo đó, gần 292.000 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục giải thể đang thuộc diện được ngành Thuế tập trung rà soát trong Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”.

Theo Công điện số 18/CĐ-CT của Cục Thuế, đối với 291.962 doanh nghiệp thuộc nhóm này, cơ quan thuế địa phương được yêu cầu thông báo để người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và thực hiện thủ tục giải thể. Sau khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế, cơ quan thuế xác nhận và phản hồi cho cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định.
Việc rà soát được đánh giá là cần thiết. Song, phía sau con số hàng trăm nghìn doanh nghiệp là những trường hợp có tình trạng pháp lý, nghĩa vụ và lịch sử hoạt động rất khác nhau.
Có doanh nghiệp còn nợ thuế, còn nghĩa vụ với người lao động, đối tác hoặc những vấn đề tài chính chưa được giải quyết. Nhưng cũng có những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế từ nhiều năm, không phát sinh hoạt động kinh doanh nhưng vì nhiều lý do vẫn chưa hoàn tất thủ tục giải thể.
Với nhóm doanh nghiệp này, thời gian càng kéo dài, việc xử lý hồ sơ càng khó khăn. Sổ sách, chứng từ có thể thất lạc; người làm kế toán đã nghỉ việc; doanh nghiệp thay đổi địa chỉ, người đại diện hoặc không còn duy trì bộ máy. Những thủ tục chưa hoàn thành từ nhiều năm trước cũng có thể trở thành nút thắt khi chủ doanh nghiệp muốn khép lại hoạt động.
Thực tế đã có trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động nhiều năm, không phát sinh doanh thu, nhưng đến khi làm thủ tục giải thể lại phải quay lại xử lý hồ sơ kế toán, nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các thủ tục còn tồn đọng. Chi phí để hoàn thiện hồ sơ trong một số trường hợp vì thế trở thành khoản tiền không nhỏ.
Vấn đề đặt ra là với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế trong thời gian dài, liệu có cần một cơ chế xử lý phù hợp hơn với tình trạng của từng trường hợp, thay vì để hồ sơ tiếp tục tồn đọng qua nhiều năm?
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng Chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội cho rằng, trước hết cần phân biệt việc doanh nghiệp ngừng hoạt động trên thực tế với việc đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hoạt động theo quy định pháp luật.

Theo Luật sư Phong, doanh nghiệp đóng cửa trụ sở, không còn nhân sự hoặc không phát sinh doanh thu trong nhiều năm không đồng nghĩa tư cách pháp lý và các nghĩa vụ liên quan tự động chấm dứt. Nếu chưa hoàn thành thủ tục theo quy định, những vấn đề còn tồn đọng vẫn phải được giải quyết khi doanh nghiệp tiến hành giải thể.
Đây cũng là nguyên nhân khiến không ít chủ doanh nghiệp cho rằng công ty đã “nghỉ từ lâu”, nhưng khi muốn hoàn tất thủ tục giải thể mới phát hiện hồ sơ, nghĩa vụ thuế hoặc các thủ tục liên quan vẫn chưa được khép lại.
Luật sư Nguyễn Thanh Phong cho rằng, việc xử lý cần dựa trên bản chất của từng trường hợp. Doanh nghiệp còn nợ thuế, nợ người lao động, bảo hiểm xã hội, có doanh thu chưa kê khai hoặc nghĩa vụ với tổ chức, cá nhân khác thì phải hoàn thành trách nhiệm theo quy định.
Nhưng với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế nhiều năm, không phát sinh hoạt động kinh doanh, việc để hồ sơ tiếp tục tồn đọng kéo dài cũng gây khó cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.
Theo Luật sư Phong, trong bối cảnh dữ liệu về thuế, hóa đơn và hoạt động của doanh nghiệp ngày càng được số hóa, cơ quan quản lý có thêm điều kiện để rà soát, phân loại hồ sơ. Những doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính hoặc có dấu hiệu rủi ro cần tiếp tục được kiểm tra, xử lý. Với những trường hợp có đủ căn cứ xác định đã ngừng hoạt động thực tế trong thời gian dài, không phát sinh hoạt động và không còn nghĩa vụ phải thực hiện, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để hoàn tất thủ tục.
Điều này, theo luật sư, không có nghĩa là xóa nghĩa vụ cho doanh nghiệp. Vấn đề là xác định đúng doanh nghiệp nào còn nghĩa vụ để tiếp tục xử lý và trường hợp nào thực tế không còn hoạt động để có cách giải quyết tương ứng, tránh tình trạng hồ sơ bị “treo” qua nhiều năm.
Luật sư Nguyễn Thanh Phong cho rằng, cơ chế xử lý có thể được xây dựng trên nguyên tắc phân loại rõ từng nhóm doanh nghiệp, quy định cụ thể điều kiện, trách nhiệm kê khai và phương thức hậu kiểm. Trường hợp sau đó phát hiện doanh nghiệp hoặc cá nhân có liên quan che giấu doanh thu, tài sản, nghĩa vụ hoặc kê khai không trung thực thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định.
“Cách làm này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa tháo gỡ vướng mắc cho những doanh nghiệp thực tế đã ngừng hoạt động nhưng nhiều năm chưa thể hoàn tất thủ tục. Cơ quan quản lý cũng có thể giảm được một lượng lớn hồ sơ phải tiếp tục theo dõi dù doanh nghiệp không còn hoạt động trên thực tế”, Luật sư Phong chia sẻ.