Doanh nghiệp
FDI thế hệ mới: Cạnh tranh bằng công nghệ và năng suất
Dòng vốn FDI tăng tốc cả về quy mô và chất lượng là bước chuyển quan trọng, đưa Việt Nam hướng tới thế hệ đầu tư mới, từ lợi thế chi phí sang lợi thế công nghệ, năng suất và đổi mới.
Sau gần 4 thập kỷ đổi mới, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, ngày càng khẳng định vai trò là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho thấy khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các thành phần kinh tế. Tỷ trọng của khu vực FDI trong GDP tăng từ 2,1% năm 1989 lên 20,3% năm.
Đáng lưu ý, trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng chững lại và sụt giảm tại nhiều quốc gia, thì Việt Nam vẫn là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhờ chính trị ổn định và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi. Trong 7 năm liên tiếp giai đoạn 2015-2021, Việt Nam nằm trong top 3 quốc gia thu hút vốn đầu tư FDI nhiều nhất khu vực ASEAN (sau Singapore và Indonesia).
Bức tranh thu hút vốn ngoại trong 7 tháng đầu năm 2026 cũng chứng kiến đà bứt phá mạnh mẽ ở cả hai chỉ số cốt lõi. Theo báo cáo cập nhật từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt hơn 38 tỷ USD, tăng tới 58% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và xác lập mức cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Những con số tăng trưởng này phản ánh niềm tin vượt trội của các nhà đầu tư quốc tế vào năng lực hấp thụ và môi trường kinh doanh ổn định của Việt Nam.
Không chỉ bứt phá về quy mô, dòng vốn ngoại trong 7 tháng đầu năm còn ghi nhận sự chuyển dịch tích cực về chất. Theo thống kê từ Bộ Tài chính, số lượng dự án mới chỉ tăng nhẹ 7,8%, trong khi tổng vốn đăng ký cấp mới lại tăng vọt gấp 2,1 lần so với cùng kỳ. Tương quan này cho thấy quy mô vốn bình quân trên mỗi dự án đang tăng lên, phản ánh xu hướng thu hút những khoản đầu tư lớn hơn thay vì gia tăng số lượng dự án đơn thuần.
Sự chuyển dịch này cũng thể hiện rõ trong cơ cấu đầu tư. Lĩnh vực chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với 18,68 tỷ USD tổng vốn đầu tư, theo sau là kinh doanh bất động sản với 5,65 tỷ USD, chiếm 14,9% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Đặc biệt, dòng vốn FDI ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ ở các lĩnh vực giá trị gia tăng cao như sản xuất, phân phối điện (3,28 tỷ USD) và thông tin, truyền thông (3,18 tỷ USD). Một trong những dự án nổi bật nhất gần đây là dự án sản xuất chất bán dẫn nền của LG Innotek với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD. Theo kế hoạch, dự án khởi công vào quý 3/2026 tại KCN DEEP C (Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, Hải Phòng) và đi vào sản xuất đại trà trong quý 3/2028.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, đã có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư tại Việt Nam, song chủ yếu vẫn đến từ các nước Châu Á. Singapore tiếp tục dẫn đầu danh sách với tổng vốn đầu tư đạt trên 10,3 tỷ USD, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng vị trí thứ hai với trên 8,2 tỷ USD, chiếm 21,6% tổng vốn đầu tư; theo sau là Hồng Kông (4,9 tỷ USD), Trung Quốc (3,69 tỷ USD) và Malaysia (3,04 tỷ USD).
Như vậy, dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục duy trì sự áp đảo từ các đối tác châu Á chủ lực, song sự hiện diện của các nhà đầu tư lớn từ châu Âu vẫn tương đối hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng. Trong số các quốc gia EU, chỉ có duy nhất Hà Lan lọt vào top 10 đối tác đầu tư lớn nhất khi đứng ở vị trí thứ 6 với 424,3 triệu USD, chiếm 2,0% tổng vốn cấp mới. Dòng vốn này chỉ chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong tổng FDI ra nước ngoài của khối, phản ánh rõ sự thận trọng của doanh nghiệp châu Âu khi rót vốn vào Việt Nam.
Bên cạnh sự phân hóa theo quốc gia đầu tư, dòng vốn ngoại cũng ghi nhận sự phân hóa rõ nét trên bản đồ đầu tư nội địa. Dòng tiền chủ yếu tập trung vào các trung tâm kinh tế lớn, nơi top 5 địa phương đóng góp hơn 72% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước. Trong đó, TP HCM dẫn đầu về tổng vốn đăng ký với 10,3 tỷ USD, chiếm 27,18% vốn đăng ký. Đáng chú ý, vốn đăng ký của Thái Nguyên bứt phá ngoạn mục lên vị trí thứ hai với 8,07 tỷ USD, chiếm 21,19% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước.
Dù đứng sau TP HCM về tổng vốn đăng ký, Thái Nguyên dẫn đầu cả nước về vốn cấp mới nhờ các siêu dự án điện tử và bán dẫn. Để đón đầu dòng vốn công nghệ cao này, ngày 18 tháng 8 năm 2026, Thái Nguyên đã chính thức khởi công Khu công nghiệp Thượng Đình với tổng vốn đầu tư gần 2.900 tỷ đồng. Theo sau Thái Nguyên trên bản đồ thu hút FDI lần lượt là Hà Nội (3,6 tỷ USD), Bắc Ninh (3,2 tỷ USD) và Nghệ An (2,3 tỷ USD).

Ông Nguyễn Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho rằng, Việt Nam duy trì tăng trưởng tích cực, bất chấp biến động toàn cầu. Điểm sáng thu hút FDI nửa đầu năm là Việt Nam tiếp tục thu hút được dự án công nghệ cao quy mô lớn, qua đó cho thấy xu hướng nâng dần chất lượng dòng vốn FDI, là minh chứng cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ nền tảng, giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
Theo Phó Chủ tịch VAFIE, có 5 yếu tố làm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam. Thứ nhất, Việt Nam có sự ổn định chính trị. Thứ hai, quy mô thị trường lớn, nhu cầu nội địa rộng mở.
Thứ ba, Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược trong chuỗi cung ứng khu vực. Thứ tư, lực lượng lao động trẻ, khả năng hội nhập cao. Thứ năm, quyết tâm cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ của Chính phủ.
Đặc biệt, các chuyên gia nhận định, Nghị quyết số 10 - NQ/TW tiếp tục tạo thêm động lực cho môi trường đầu tư, đồng thời nâng cấp mô hình thu hút FDI của Việt Nam từ lợi thế chi phí sang lợi thế chất lượng. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
Nói như ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, có sự thay đổi tư duy và đổi mới từ nội hàm cho đến phương thức thu hút dòng vốn ngoại từ chiều sâu vi mô, đặc biệt lưu ý chất lượng của dự án FDI và tính kết nối lan tỏa, liên kết chặt chẽ giữa các khu vực để phát huy tối đa giá trị của dự án và dòng vốn đầu tư.
“Để tối ưu hóa hiệu quả thu hút FDI, yêu cầu đặt ra rất lớn liên quan đến vấn đề chất lượng của các dự án như thế nào, bao gồm việc đem lại nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về năng lực công nghệ, vốn, quản trị hiện đại và thu hút các đa quốc gia trong danh sách Fortune 500. Và qua chất lượng dự án FDI, gắn kết sức lan tỏa của các dự án này đối với các khu vực kinh tế trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mục tiêu là làm sao để 3 khu vực FDI, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân có sự gắn kết chặt chẽ với nhau và đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh ở châu Á”, ông Cương nhấn mạnh.
Ông Cương cho rằng, trong 3 trụ cột quyết định khả năng hiện thực hóa chính sách cùng với thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực, thì nguồn nhân lực vẫn là yếu tố “then chốt”, quyết định chất lượng xây dựng và triển khai chính sách.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), Tổng Giám đốc Tổ hợp Khu công nghiệp DEEP C cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước ngoặt hết sức quan trọng trong mô hình và chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Nếu trước đây thành công chủ yếu được đo bằng quy mô vốn, thì nay, trọng tâm đã chuyển sang chất lượng dòng vốn và giá trị FDI tạo ra cho nền kinh tế. Và đây chính là điểm nhấn quyết định đưa Việt Nam bước lên một tầm cao mới trên bản đồ FDI thế hệ mới, đó là trở thành “đối tác chiến lược” của các tập đoàn toàn cầu với sự lựa chọn ở lại lâu dài của nhà đầu tư, mở rộng R&D, chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng, góp phần nâng chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
Chủ tịch EuroCham nhận định, khi được triển khai đồng bộ với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân cùng chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, Nghị quyết số 10- NQ/TW sẽ tạo nên một hệ sinh thái đầu tư hấp dẫn hơn, giúp Việt Nam chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.
Từ lợi thế chi phí sang lợi thế công nghệ