Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Nới thanh toán không dùng tiền mặt: Ai kiểm chứng giao dịch?

Nguyễn Giang 03/09/2026 04:00

Đề xuất nới điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt tại vùng khó khăn được kỳ vọng tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, nhưng cũng cần làm rõ cách chứng minh giao dịch thực tế.

Tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 320/2025/NĐ-CP đang được lấy ý kiến, Bộ Tài chính đề xuất một số trường hợp tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn không phải áp dụng quy định về thanh toán không dùng tiền mặt.

noi-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-1(1).jpg
Bộ Tài chính đề xuất một số trường hợp tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn không phải áp dụng quy định về thanh toán không dùng tiền mặt. Ảnh: Quốc Tuấn

Đáng chú ý, trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, hộ gia đình thuộc diện được lập bảng kê thay cho hóa đơn đầu vào, nếu giá trị thanh toán từng lần từ 5 triệu đồng trở lên và người bán cư trú tại địa bàn thuộc diện trên, doanh nghiệp được đề xuất không phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để khoản chi được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ngoại lệ cũng được đề xuất đối với việc thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp và các khoản chi khác cho người lao động; quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô thanh toán tiền lãi cho cá nhân.

Đề xuất này xuất phát từ thực tế khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, ATM cũng như mức độ sử dụng các phương thức thanh toán điện tử tại một số vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Trong khi đó, hoạt động thu mua nông sản, lâm sản và những sản phẩm do người dân trực tiếp sản xuất thường diễn ra tại chỗ, thanh toán bằng tiền mặt vẫn phổ biến.

Việc có một ngoại lệ phù hợp vì thế có thể tháo gỡ khó khăn cho những giao dịch thực sự phát sinh. Nhưng khi không áp dụng điều kiện về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, một câu hỏi khác cần được làm rõ: doanh nghiệp sẽ dựa vào đâu để chứng minh giao dịch thực tế?

Vấn đề này càng đáng lưu ý khi doanh nghiệp vừa được lập bảng kê thay cho hóa đơn đầu vào, vừa có thể thanh toán bằng tiền mặt. Nếu quy định không rõ về căn cứ chứng minh, rủi ro không chỉ nằm ở khả năng chính sách bị lợi dụng mà chính doanh nghiệp làm ăn bình thường cũng có thể gặp khó khi khoản chi được kiểm tra sau này.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng Chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội cho rằng, việc nghiên cứu ngoại lệ là cần thiết bởi điều kiện thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt giữa các địa bàn hiện chưa đồng đều.

73-1-.jpg
Đề xuất nới điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt tại vùng khó khăn được kỳ vọng tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, nhưng cũng cần làm rõ cách chứng minh giao dịch thực tế. Ảnh: Quốc Tuấn

Theo Luật sư Phong, mục tiêu minh bạch hóa giao dịch và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt là cần thiết. Nhưng chính sách cũng phải tính đến khả năng thực hiện trên thực tế, nhất là đối với doanh nghiệp hoạt động tại vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, thường xuyên thu mua nông sản, lâm sản và các sản phẩm khác trực tiếp từ người dân.

Nếu mọi giao dịch thuộc ngưỡng quy định đều phải thanh toán không dùng tiền mặt mới được tính vào chi phí được trừ thì trong một số trường hợp, yêu cầu nhằm minh bạch hóa giao dịch có thể trở thành trở ngại đối với những giao dịch có thật.

Việc thiết kế ngoại lệ có giới hạn cho những địa bàn và trường hợp thực sự cần thiết là hợp lý. Nhưng đây chỉ nên là ngoại lệ về phương thức thanh toán, không phải ngoại lệ đối với nghĩa vụ chứng minh tính có thật, hợp pháp và liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của khoản chi”, Luật sư Nguyễn Thanh Phong cho biết.

Theo Luật sư Phong, thanh toán không dùng tiền mặt tạo ra dữ liệu tương đối rõ về người chuyển tiền, người nhận, số tiền và thời điểm giao dịch. Khi không áp dụng điều kiện này, nhất là với những khoản mua hàng được lập bảng kê thay cho hóa đơn, khả năng kiểm chứng sẽ khó hơn nếu hồ sơ chỉ có thông tin do doanh nghiệp kê khai.

Điều đó có thể tạo nguy cơ phát sinh những khoản mua bán không có thật hoặc kê khai không đúng giá trị giao dịch nhằm hợp thức hóa chi phí. Nhưng theo luật sư, không nên vì nguy cơ chính sách bị lợi dụng mà duy trì một điều kiện không phù hợp với thực tế ở một số địa bàn.

Vấn đề quan trọng là phải có căn cứ đủ để xác định người bán, hàng hóa và việc thanh toán thực sự đã diễn ra.

Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, ngoài bảng kê theo quy định, có thể nghiên cứu những căn cứ như thông tin nhận diện người bán, loại hàng hóa, số lượng, giá trị, thời gian và địa điểm giao nhận; chứng từ giao nhận, chứng từ chi tiền hoặc xác nhận nhận tiền. Tùy tính chất giao dịch, dữ liệu điện tử phù hợp cũng có thể được sử dụng để đối chiếu.

Tuy nhiên, các yêu cầu này không nên trở thành một bộ hồ sơ cứng nhắc áp dụng cho mọi giao dịch. Với doanh nghiệp thường xuyên thu mua hàng hóa từ số lượng lớn người dân, nếu phát sinh thêm quá nhiều giấy tờ thì ngoại lệ được đặt ra để tháo gỡ cuối cùng lại tạo thêm thủ tục.

Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Giang
Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Giang

Luật sư Phong lưu ý, nếu quy định không đủ rõ ngay từ đầu, rủi ro có thể xuất hiện khi thanh tra, kiểm tra. Doanh nghiệp cho rằng đã thực hiện đúng, nhưng vài năm sau lại không có đủ căn cứ chứng minh giao dịch, từ đó có thể phát sinh tranh luận về tính hợp lệ của khoản chi.

Không áp dụng một điều kiện thanh toán không có nghĩa là bỏ khả năng truy vết giao dịch. Quy định càng rõ doanh nghiệp càng biết ngay từ đầu cần lưu giữ những gì, cơ quan thuế cũng có căn cứ thống nhất để kiểm tra sau này”, Luật sư Phong nhận định.

Đối với hậu kiểm, Luật sư Nguyễn Thanh Phong cho rằng nên tập trung vào những dấu hiệu rủi ro thay vì đặt thêm thủ tục cho tất cả doanh nghiệp. Những biến động bất thường về chi phí thu mua bằng tiền mặt, người bán, giá trị giao dịch hoặc lượng hàng hóa đầu vào có thể là căn cứ để cơ quan quản lý kiểm tra sâu hơn.

Ngược lại, doanh nghiệp có giao dịch thực, lưu giữ được các căn cứ cần thiết và hoạt động phù hợp với đặc thù địa bàn không nên phải gánh thêm một hệ thống giấy tờ phức tạp chỉ để chứng minh khoản chi.

Theo Luật sư Phong, cho phép thanh toán bằng tiền mặt trong một số trường hợp đặc thù cũng không làm thay đổi định hướng thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Khi hạ tầng ngân hàng, thanh toán số và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân được cải thiện, phạm vi ngoại lệ có thể được rà soát, điều chỉnh.

Chính sách cần tính đến điều kiện thực tế của từng địa bàn. Nhưng khi mở một ngoại lệ, cũng phải có cách kiểm chứng đủ tin cậy để doanh nghiệp làm đúng được thuận lợi, còn trường hợp lợi dụng chính sách vẫn có thể bị phát hiện, xử lý”, Luật sư Nguyễn Thanh Phong nhấn mạnh.

Nguyễn Giang