Kinh tế
Tổng lực cho tăng trưởng hai con số
Nền kinh tế chỉ còn khoảng 4 tháng nữa để khép lại năm đầu tiên của giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Đây là năm mở đầu bằng những chuyển biến tăng trưởng thực chất cho chặng đường tăng trưởng bình quân 10% mỗi năm.

Trong chặng nước rút của 4 tháng cuối năm nay, những chính sách tổng lực từ tài khóa đến tiền tệ đang hỗ trợ, thúc đẩy để đạt mục tiêu này.
Những điểm sáng của nền kinh tế
Trong quý II/2026, GDP Việt Nam bứt tốc lên 8,39% so với cùng kỳ – mức tăng trưởng cao nhất khu vực ASEAN, vượt qua cả Malaysia, Singapore hay Indonesia. Tính chung nửa đầu năm nay, GDP đạt 8,18%, cao hơn mức 8,02% của cả năm 2025.
Đằng sau những con số này là một bức tranh chính sách được vận hành đồng bộ, đưa Việt Nam vượt mọi cơn gió ngược từ bối cảnh vĩ mô toàn cầu.
Ở góc độ vĩ mô, Việt Nam vẫn đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ, với khối doanh nghiệp FDI và nhóm sản phẩm công nghệ tăng tốc rõ rệt trong tháng 8, dù số liệu chưa được chính thức công bố. Một tín hiệu tích cực khác là cán cân thương mại được dự báo quay lại thặng dư trong tháng 8, sau khi thâm hụt trong tháng 7, chủ yếu từ việc doanh nghiệp giảm tốc độ nhập khẩu nguyên liệu, máy móc sau giai đoạn tích trữ hàng tồn kho mạnh trong nửa đầu năm nay.
Điểm sáng rõ nét nhất của bức tranh tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong những tháng qua được ghi nhận với mức tăng mạnh, cho thấy niềm tin kinh doanh đang được củng cố. Cùng với đó, dòng vốn tín dụng đang thẩm thấu hiệu quả hơn vào nền kinh tế thực, khi khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng đầu tư tư nhân đã thu hẹp đáng kể so với giai đoạn trước đây.
Ông Vũ Việt Linh - Phó Giám đốc Phòng Phân tích, Khối Khách hàng tổ chức, Maybank Investment Bank nhấn mạnh, đầu tư công tiếp tục sẽ là trụ đỡ, với tốc độ giải ngân dự kiến duy trì mức tăng cao khoảng 25% trong tháng 8, khi hoạt động giải ngân bước vào giai đoạn tăng tốc theo mùa vụ giữa năm và chạy đua kế hoạch năm.
Với tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam chỉ ở mức 30,3% - thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Malaysia (70,7%), Thái Lan (64,7%) hay Philippines (59,4%) - dư địa tài khóa để tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công, đồng thời cân nhắc các gói hỗ trợ thuế, phí cho doanh nghiệp, vẫn còn khá rộng rãi.
Đây là lợi thế so sánh quan trọng mà không nhiều nền kinh tế đang phát triển trong khu vực có được, và là cơ sở để các chính sách tài khóa mở rộng hiện nay không tạo áp lực lớn lên bền vững tài khóa trung hạn.
Bài toán cân bằng cho tổng lực
Tuy nhiên, tổng lực chỉ phát huy hiệu quả khi dòng vốn, bao gồm cả tín dụng lẫn đầu tư công, được giải ngân đúng trọng tâm và đúng tiến độ, là đòn bẩy trong sự chuyển dịch của mô hình tăng trưởng đi vào chiều sâu, cải thiện hơn năng suất lao động.
PGS TS Trần Hoàng Ngân khẳng định Việt Nam đang không ngừng cải cách thể chế, rà soát và hoàn thiện pháp lý để đảm bảo tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực giải phóng toàn diện các nguồn lực xã hội. Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong thời gian dài, ông cho rằng điều kiện tiên quyết để giữ vững đà tăng trưởng đó chính là phải đảm bảo ổn định vĩ mô, nâng cao sức đề kháng và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Đối với các chính sách tài khóa có tính hỗ trợ cao, PGS TS Trần Hoàng Ngân cho rằng, bên cạnh Nghị quyết số 43/2026/QH16 giảm 30% thuế cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng, nên mạnh dạn miễn thuế hoàn toàn cho khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển đổi.
Bởi theo tính toán, nguồn thu từ đây chỉ chiếm khoảng 1 - 2% ngân sách quốc gia, nhưng giá trị an sinh mang lại là vô giá. Sự cộng hưởng của cộng đồng 2 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) này sẽ tạo nên sức mạnh to lớn và bền vững cho quốc gia.
Với việc duy trì đà tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 15 - 17% và các chương trình tín dụng rất cụ thể, đặc biệt chương trình dành cho SME và các động lực tăng trưởng đã lên tới con số đăng ký 408 nghìn tỷ đồng từ các tổ chức tín dụng, PGS TS Trần Hoàng Ngân khuyến nghị cần đi kèm với giám sát chặt chẽ để dòng vốn chảy vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ - những lĩnh vực đang thực sự tạo ra giá trị gia tăng, thay vì bị hút vào các kênh đầu cơ tài sản.
Ông Vũ Việt Linh lưu ý về chỉ số CPI 4 tháng cuối năm nay, một ràng buộc mà chính sách tiền tệ phải cân đối: vừa duy trì mặt bằng lãi suất đủ thấp để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và đầu tư tư nhân, vừa không để lạm phát vượt tầm kiểm soát, đặc biệt trong bối cảnh vẫn còn rủi ro xung đột Trung Đông tác động lên giá năng lượng và lạm phát toàn cầu.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đây là giai đoạn "cửa sổ chính sách" cần sự đồng thuận và chủ động lớn về vốn, con người, công nghệ… để đón cơ hội hợp tác lớn từ đầu tư công, đặc biệt ở khu vực xây dựng, vật liệu, logistics; liên kết với dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam… Qua đó, cộng hưởng giá trị "tổng lực chính sách" để thực sự chuyển hóa thành tăng trưởng chất lượng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Dù vậy, trong bối cảnh các doanh nghiệp vẫn cần được nâng đỡ và được đáp ứng nhu cầu vốn thực, ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital nhấn mạnh, việc phát triển cân bằng thị trường vốn như cổ phiếu và trái phiếu sẽ giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho doanh nghiệp, đặc biệt là cho thị trường nền của các thị trường - bất động sản.
Nếu phát triển thị trường vốn đáp ứng nhu cầu kỳ vọng, đây sẽ là nền tảng để cân bằng lại cấu trúc từ thị trường vốn cho đến những thị trường đầu tư.