Doanh nghiệp
Xuất khẩu nông sản dịch chuyển sang giá trị và uy tín thương hiệu
Hàng rào kỹ thuật khắt khe hơn của các thị trường lớn đòi hỏi nhiều ngành hàng tái cấu trúc, thay đổi phương thức sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng.
Đây là một trong những nội dung được đại diện cơ quan quản lý, các doanh nghiệp nhập khẩu lớn từ châu Âu, Trung Đông chia sẻ tại hội thảo “Nâng tầm giá trị nông sản và thực phẩm trong chuỗi cung ứng bền vững”. Nhiều thông tin thị trường quan trọng được cập nhật để doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế trao đổi nắm bắt nhu cầu cùng tìm kiếm những cơ hội hợp tác mới.
Chuyển từ sản lượng sang chất lượng
Theo Cục Hải quan (Bộ Tài chính), kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản Việt Nam trong năm 2025 đạt 41,27 tỷ USD, tăng 16,1% so với năm trước, chiếm 8,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. 8 tháng của năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu nông sản đạt hơn 49,3 tỷ USD, tăng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2025.

Thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất là châu Á, sau đó là các thị trường châu Mỹ và châu Âu chiếm 21,5% và 13,4%. Thị phần của khu vực châu Phi và châu Đại Dương chiếm tỷ trọng khiếm tốn lần lượt 2,3% và 1,5% cho thấy đây là những thị trường còn nhiều dư địa tăng trưởng.
Nhận định về thương mại xuất khẩu nông sản, đại diện đơn vị tổ chức hội thảo, bà Nguyễn Thảo Hiền - Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) cho biết: Nông sản là một trong những nhóm mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD mỗi năm, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và cân bằng cán cân thương mại. Ngành đã thể hiện vai trò trụ đỡ của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng đột phá và ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực cả về cơ cấu thị trường, cơ cấu mặt hàng.
Bức tranh xuất khẩu nông sản Việt Nam đang chuyển dịch đúng hướng từ "tiêu thụ những gì mình có" sang "cung cấp những gì thị trường cần", từ xuất khẩu sản lượng sang xuất khẩu giá trị và uy tín thương hiệu.
Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, nhiều khó khăn, thách thức đặt ra cho xuất khẩu nông sản. Đặc biệt , xu hướng “xanh hóa” thương mại toàn cầu đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam.
Các thị trường lớn như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản liên tục nâng tiêu chuẩn về phát thải carbon, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, lao động và bảo vệ môi trường, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi mạnh phương thức sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng. Đây có thể được xem như “giấy thông hành” bắt buộc để hàng hóa có thể tiếp cận thị trường quốc tế trong giai đoạn tới.
Doanh nghiệp sẵn sàng cho những cơ hội mới
Từ góc độ đơn vị phân phối nông sản Việt Nam tại Hà Lan và châu Âu, ông Sven Dekker - đại diện công ty Food Europe BV Hà Lan thông tin: mỗi năm thị trường EU có nhu cầu nhập khẩu 14 tỷ eur thực phẩm từ ASEAN, trong đó 25% giá trị nhập khẩu từ Việt Nam. Trong đó, thị trường thương mại điện tử B2B tại đây đang tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ hơn 22%/năm.

Về xu hướng tiêu dùng, người dân EU đã chuyển hướng lựa chọn các mặt hàng thực phẩm sạch, tiện lợi và rõ nguồn gốc. Trong bối cảnh sản xuất nông sản Việt Nam đang dịch chuyển mô hình sản xuất, chú trọng chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thì châu Âu tiếp tục là thị trường tiềm năng.
Ông Sven Dekker nhấn mạnh: EU đang mở cửa với ẩm thực Việt. Câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp có sẵn sàng bước vào chuỗi giá trị không? Trong đó, 3 điều quan trọng nhất mà những nhà mua hàng ở EU cân nhắc khi lựa chọn nhà cung cấp.
Đó là chất lượng sản phẩm, dịch vụ; tiến độ giao hàng và khả năng mua hàng trực tuyến. Đồng thời khuyến nghị cần đảm bảo chuỗi cung ứng bền vững “từ hạt giống đến bàn ăn” như là chìa khóa tiếp cận thị trường lớn bền vững.
Bên cạnh đó là yêu cầu cấp bách cần mở rộng thị trường xuất khẩu để giảm phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống khiến xuất khẩu nông sản dễ bị tác động khi chính sách nhập khẩu thay đổi. Trong bối cảnh đó, đại diện các doanh nghiệp lớn như tập đoàn Lulu, Lootah gợi mở thị trường Trung Đông - một điểm sáng giàu tiềm năng với quy mô nhập khẩu lớn và đang tăng cường tìm kiếm nguồn hàng nông sản, thực phẩm.
Ở khu vực này, khai thác thị trường Halal có thể xem là hướng đi hiệu quả với nhu cầu lớn và tốc độ tăng trưởng cao. Riêng tại Trung Đông với quy mô 500 triệu dân và tổng GDP đạt tới 3.600 tỷ USD có nhu cầu nhập khẩu thực phẩm rất cao, đạt mức 132 tỷ USD trong năm 2023. Các nhóm sản phẩm chủ lực mà khu vực này đang có nhu cầu lớn là sữa, thịt, gạo, thực phẩm chế biến và các loại đồ uống.
Tuy nhiên, cũng giống như một số thị trường khác, bên cạnh cơ hội mới, doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với những thách thức đến từ sự đa dạng và phức tạp của hệ thống tiêu chuẩn đặc thù. Trao đổi tại hội thảo, đại diện doanh nghiệp Việt Nam cho rằng: dù phải vượt qua những khó khăn, thách thức lớn từ thị trường quốc tế, nhưng nhìn nhận tích cực, đây có thể là động lực mạnh mẽ để các doanh nghiệp đổi mới tư duy, tái cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng, phát triển bền vững.