Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Tinh chỉnh tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn 06/09/2026 04:15

Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đặt ra yêu cầu tinh chỉnh tiêu chí xác định doanh nghiệp theo hướng đơn giản, minh bạch nhưng vẫn bảo đảm nguồn lực hỗ trợ đến đúng đối tượng.

Việc sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) năm 2017 sau 9 năm triển khai không chỉ dừng ở điều chỉnh kỹ thuật văn bản, mà còn được kỳ vọng tạo bước chuyển trong tư duy quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân, theo hướng hỗ trợ đúng đối tượng, minh bạch và phù hợp hơn với sự thay đổi của nền kinh tế. Theo đó, Dự thảo Luật Phát triển DNNVV (Dự thảo) đang được hoàn thiện và cho ý kiến.

Nhiều ý kiến cho rằng, trọng tâm của lần sửa đổi này cần là xây dựng cơ chế hỗ trợ pháp lý thực chất, giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận chính sách, yên tâm đổi mới sáng tạo.
Dự thảo Luật Phát triển DNNVV (Dự thảo) đang được hoàn thiện và cho ý kiến.

Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến là tiêu chí xác định DNNVV và việc mở rộng nhóm đối tượng được ưu tiên hỗ trợ.

Trong Dự thảo lần này, Bộ Tài chính đề xuất bỏ tiêu chí “tổng nguồn vốn”, vốn được đánh giá là khó xác định chính xác trên thực tế và dễ phát sinh cách hiểu khác nhau.

Thay vào đó, Dự thảo thiết kế tiêu chí theo hướng đơn giản hơn, gồm số lao động bình quân năm không quá 300 người, kết hợp với một trong hai điều kiện về doanh thu hoặc vốn. Theo đó, doanh nghiệp có doanh thu của năm trước liền kề không quá 400 tỷ đồng hoặc có tổng nguồn vốn không quá 150 tỷ đồng sẽ thuộc diện xác định là DNNVV nếu đáp ứng điều kiện về lao động.

Cùng với việc điều chỉnh tiêu chí, Dự thảo cũng mở rộng diện ưu tiên đối với một số nhóm doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ; doanh nghiệp thực hành kinh doanh bền vững (ESG) và hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.

Giải trình về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết Ban soạn thảo đã thiết kế tiêu chí theo hướng thông thoáng hơn, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Việc lựa chọn một trong hai tiêu chí về doanh thu hoặc vốn, kết hợp với tiêu chí về số lao động, được kỳ vọng giúp cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong việc nhận diện, phân loại doanh nghiệp trên nền tảng dữ liệu điện tử. Tuy nhiên, bên cạnh yêu cầu đơn giản hóa, việc thiết kế tiêu chí cũng đặt ra bài toán làm thế nào để chính sách hỗ trợ đến đúng những doanh nghiệp thực sự cần hỗ trợ, tránh tình trạng mở rộng đối tượng nhưng nguồn lực bị phân tán.

Phân tích cả mặt tích cực và những nguy cơ tiềm ẩn của tiêu chí mới, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng việc đơn giản hóa tiêu chí là phù hợp với thực tiễn số hóa và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), khi mô hình sản xuất, kinh doanh và bản chất của lao động đang có những thay đổi đáng kể.

Theo Chủ tịch Quốc hội, tiêu chí về số lao động có thể dễ dàng đối chiếu với dữ liệu bảo hiểm xã hội, qua đó tăng tính minh bạch và giảm thủ tục hành chính. Trong khi đó, việc nâng ngưỡng doanh thu cũng góp phần phản ánh sát hơn quy mô thực tế của nền kinh tế hiện nay.

Dù vậy, tiêu chí mới vẫn có những điểm cần tiếp tục nghiên cứu.

“Ngưỡng doanh thu 400 tỷ đồng vẫn có thể khiến một số doanh nghiệp đã có năng lực tài chính và sức cạnh tranh rất tốt lọt vào diện nhận hỗ trợ, từ đó làm loãng nguồn lực quốc gia”, Chủ tịch Quốc hội phân tích.

Ở chiều ngược lại, tiêu chí về số lượng lao động có thể chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của các doanh nghiệp công nghệ cao. Đây là những doanh nghiệp có thể sử dụng ít nhân công nhưng tạo ra doanh thu lớn, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Từ đó, Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục nghiên cứu bổ sung các chỉ số phản ánh sâu hơn bản chất hoạt động của doanh nghiệp, chẳng hạn tiêu chí về “giá trị gia tăng” hoặc “tỷ lệ chi phí trên tổng doanh thu” đối với nhóm doanh nghiệp công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo.

Đáng chú ý, Chủ tịch Quốc hội cũng gợi ý cần thiết lập cơ chế “trưởng thành” đối với doanh nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ. Theo đó, nếu doanh nghiệp liên tục vượt ngưỡng tiêu chí trong khoảng 2-3 năm thì cần được đưa ra khỏi diện thụ hưởng.

Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá việc điều chỉnh tiêu chí xác định DNNVV theo hướng nâng ngưỡng tài chính là phù hợp với thực tiễn.

Theo VCCI, Điều 4 Dự thảo xác định DNNVV dựa trên hai yếu tố gồm số lao động bình quân năm và tổng nguồn vốn/tổng doanh thu. So với Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, ngưỡng tiêu chí về mặt tài chính trong Dự thảo đã được nâng lên. VCCI cho rằng sự điều chỉnh này là hợp lý nhằm phản ánh những thay đổi của nền kinh tế, đặc biệt là tác động của trượt giá và sự gia tăng quy mô thị trường qua thời gian.

Tuy nhiên, theo VCCI, ngay cả ngưỡng mới cũng có thể trở nên lỗi thời trong tương lai khi quy mô nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng. Do đó, để bảo đảm tính thực tiễn của quy định trong dài hạn, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định giao thẩm quyền điều chỉnh ngưỡng tiêu chí xác định DNNVV cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

VCCI đề nghị tránh chồng chéo với các cơ chế định danh hiện hành.
Việc sửa đổi Luật đang đặt ra yêu cầu tinh chỉnh tiêu chí xác định doanh nghiệp theo hướng đơn giản, minh bạch

Đề xuất này được kỳ vọng tạo cơ chế cập nhật tiêu chí theo sự thay đổi của nền kinh tế, thay vì mỗi lần ngưỡng tiêu chí không còn phù hợp lại phải sửa đổi luật.

Liên quan đến cách xác định nhóm DNNVV đặc thù, Điều 3 Dự thảo đưa ra định nghĩa đối với một số nhóm doanh nghiệp đặc thù, gồm DNNVV do phụ nữ làm chủ; DNNVV do người khuyết tật làm chủ; DNNVV sử dụng nhiều lao động nữ và DNNVV sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật.

Theo VCCI, mặc dù các nhóm này được hưởng những chính sách hỗ trợ tương đồng, việc tách biệt cứng nhắc các định nghĩa có thể vô tình tạo ra “vùng xám” pháp lý, khiến một số doanh nghiệp thuộc nhóm yếu thế bị loại khỏi đối tượng thụ hưởng.

Chẳng hạn, một doanh nghiệp đồng thời sử dụng nhiều lao động nữ và lao động là người khuyết tật. Nếu xét riêng từng nhóm, tỷ lệ lao động có thể chưa đạt ngưỡng quy định; nhưng khi tính tổng tỷ lệ lao động thuộc các nhóm cần được ưu tiên thì doanh nghiệp lại đáp ứng mục tiêu của chính sách.

Việc không công nhận doanh nghiệp này thuộc diện hỗ trợ, theo VCCI, là chưa thực sự hợp lý và có thể làm giảm giá trị bao trùm của chính sách. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu cách thiết kế tiêu chí theo hướng linh hoạt hơn, vừa bảo đảm khả năng xác định đối tượng một cách minh bạch, vừa tránh bỏ sót những doanh nghiệp thực sự thuộc nhóm cần được Nhà nước ưu tiên.

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn