Công nghệ

Công nghệ

Nghị quyết 57-NQ/TW tạo đà nâng cao năng lực cạnh tranh

Kim Dung 09/09/2026 09:54

Sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hưng Yên đã tạo chuyển biến rõ nét, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội.

1788795426028_3989257639391992527_3989257639391992527_976fa56d00eafad27e5211de0726de65.jpg
Ngày 7/7/2026, Hưng Yên sơ kết 18 tháng thực hiện Nghị quyết 57, thúc đẩy CĐS&ĐMST

Hoạt động KHCN, ĐMST, CĐS trên địa bàn ngày càng đi vào thực chất, phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp, đẩy mạnh xây dựng dữ liệu dùng chung, phát triển kinh tế số, đào tạo nhân lực số và hình thành hệ sinh thái ĐMST.

Chuyển từ “triển khai nhiệm vụ” sang quản trị bằng kết quả

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, bà Thái Thị Thu Hường - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên cho biết, dấu ấn nổi bật nhất là sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo tỉnh đã ban hành 54 văn bản chỉ đạo, điều hành để cụ thể hóa các nhiệm vụ Trung ương giao, xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn, sản phẩm và trách nhiệm thực hiện.

Phương thức chỉ đạo được quán triệt theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ kết quả, rõ trách nhiệm”. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã giám sát việc thực hiện Nghị quyết đối với 26 tổ chức đảng, 5 cơ quan chuyên trách, tham mưu và 39 đảng viên.

1788795414385_3989257639391992527_3989257639391992527_d7c9ad23e11df826befaa2ce7258430b.jpg
Ngày 06/9/2026, Trung tâm ĐMST &CĐS, Sở KH&CN Hưng Yên tổ chức họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cơ sở “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy sấy lạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ chế biến nông sản Hưng Yên

Đáng chú ý, tính đến ngày 30/6/2026, Hưng Yên được giao 272 nhiệm vụ trên Hệ thống theo dõi Nghị quyết 57-NQ/TW. Trong đó, 155 nhiệm vụ đã hoàn thành, 19 nhiệm vụ đang thực hiện đúng hạn và không có nhiệm vụ quá hạn. Xét riêng nhóm nhiệm vụ có thời hạn, tỉnh đã hoàn thành 155/174 nhiệm vụ, đạt tỷ lệ 89,1%. Nghị quyết 57 đã được chuyển thành các nhiệm vụ cụ thể có thể đo lường và kiểm đếm rõ ràng.

Chuyển đổi số ngày càng đi vào chiều sâu

Trong lĩnh vực CĐS, các kết quả đạt được đã tạo tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và hoạt động của cơ quan nhà nước.

6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh tiếp nhận hơn 558.700 hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC), trong đó hơn 521.400 hồ sơ tiếp nhận trực tuyến. Bộ Chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện TTHC, cung cấp dịch vụ công theo thời gian thực trên môi trường điện tử đạt 96,15/100 điểm. Đặc biệt, 100% TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính trong phạm vi tỉnh.

CĐS đang chuyển dịch từ việc “đưa thủ tục lên mạng” sang khai thác dữ liệu để đơn giản hóa quy trình. Dữ liệu hộ tịch điện tử, dữ liệu dân cư và VNeID được tăng cường sử dụng. Tỉnh đã ban hành 23 quyết định công bố danh mục TTHC cắt giảm, đơn giản hóa liên quan đến sản xuất, kinh doanh với tổng số 315 thủ tục.

Thực hiện Đề án 06, toàn tỉnh đã thu nhận trên 2,4 triệu hồ sơ định danh điện tử. Công tác làm sạch dữ liệu dân cư được duy trì thường xuyên, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”. Chi trả bảo hiểm thất nghiệp, ốm đau, thai sản đạt 100% qua tài khoản; chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng đạt trên 97%. Ngành BHXH đã xác thực, đồng bộ 99,7% dữ liệu người tham gia với CSDL quốc gia về dân cư. 100% cơ sở khám chữa bệnh sử dụng CCCD gắn chip; 100% tài khoản ngân hàng cá nhân đang hoạt động được đối chiếu sinh trắc học.

Những kết quả trên cho thấy giá trị của CĐS không còn nằm chủ yếu ở việc xây dựng phần mềm, mà ngày càng thể hiện qua khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu để giảm giấy tờ, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Dữ liệu và hạ tầng số trở thành nền tảng mới

Hưng Yên xác định dữ liệu là nền tảng cốt lõi của CĐS. Dữ liệu đất đai đã cập nhật hơn 2,6 triệu thửa (đạt gần 80%), trong đó hơn 620.000 thửa được làm sạch, kết nối với dữ liệu dân cư. Dữ liệu hộ tịch đã rà soát, đồng bộ hơn 1,2 triệu thông tin. Học bạ số cấp tiểu học triển khai tại 100% trường học; CSDL cán bộ, công chức, viên chức đạt tỷ lệ đầy đủ trên 99%; 40/40 cơ sở y tế đã công bố bệnh án điện tử. Tỉnh cũng phân loại CSDL thành 3 nhóm, ban hành danh mục dữ liệu chủ chuyên ngành, dữ liệu dùng chung và dữ liệu mở.

bv.jpg
Bệnh viện đa khoa Thái Bình, tỉnh Hưng Yên đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ

Hạ tầng số tiếp tục được củng cố. 100% xã, phường có mạng cáp quang và phủ sóng di động 3G, 4G, 5G. Mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối đến các sở, ban, ngành và 104 UBND cấp xã. Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của tỉnh đã kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, phục vụ kết nối nhiều hệ thống thông tin quan trọng. Đây chính là điều kiện để mô hình chính quyền số được vận hành thông suốt từ tỉnh đến cơ sở, nhất là trong bối cảnh Hưng Yên triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

KHCN và ĐMST từng bước trở thành động lực tăng trưởng

Theo ông Nguyễn Xuân Hải - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên, địa phương không chỉ tập trung CĐS khu vực công mà đã định hình phát triển KHCN, ĐMST gắn với lợi thế địa phương. Tỉnh đề xuất các nhóm công nghệ chiến lược như AI, IoT, Big Data, bản sao số, blockchain và công nghệ phục vụ nông nghiệp thông minh, môi trường, quản trị rủi ro thiên tai, truy xuất nguồn gốc.

Đặc biệt, Hưng Yên đã hoàn thành Đề án thành lập Khu công nghệ cao và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1499/QĐ-TTg ngày 8/6/2026. Tỉnh đang tiếp tục xây dựng Đề án cải thiện chỉ số ĐMST cấp địa phương (PII) giai đoạn 2026-2030 và Đề án xây dựng hệ sinh thái ĐMST tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Hoạt động nghiên cứu khoa học cũng được đẩy mạnh. UBND tỉnh đã phê duyệt danh mục 47 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh đặt hàng thực hiện từ năm 2026; 46 nhiệm vụ có hồ sơ đạt yêu cầu sau tuyển chọn. Việc nghiên cứu, ứng dụng và nhân rộng kết quả các nhiệm vụ KH&CN được chú trọng hơn, hướng tới giải quyết các bài toán thực tiễn của địa phương.

Phát triển kinh tế số gắn với doanh nghiệp và người dân

Chuyển đổi số tại Hưng Yên đang từng bước lan tỏa sang khu vực sản xuất, kinh doanh. 100% doanh nghiệp kết nối Internet; 100% doanh nghiệp thực hiện khai thuế và hóa đơn điện tử; khoảng 20% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử; kinh tế số chiếm khoảng 7,16% GRDP.

Thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm địa phương tiếp tục phát triển. Các sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề, nông sản chủ lực được hỗ trợ đưa lên sàn thương mại điện tử, xây dựng website, mã QR và thương hiệu trực tuyến.

Hơn 15.200 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đã tham gia các nền tảng thương mại điện tử với khoảng 525.000 sản phẩm. Trên 80% tiểu thương sử dụng ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần hình thành thói quen giao dịch số trong cộng đồng.

1788795422215_3989257639391992527_3989257639391992527_ad9a46c30e432354b80624addd8f9a77.jpg
Hưng Yên cụ thể hóa các nhiệm vụ phát triển KHCN&ĐMST&CĐS đến năm 2030

Những kết quả này cho thấy CĐS đang dần trở thành một phương thức sản xuất, kinh doanh mới, góp phần mở rộng thị trường, giảm chi phí giao dịch và nâng cao tính minh bạch.

Về phát triển nguồn nhân lực, năm 2025 tỉnh phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội đào tạo văn bằng 2 CNTT cho 107 CBCCVC; năm 2026 tiếp tục tổng hợp hơn 100 cán bộ đăng ký. 100% xã, phường thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng và Tổ ứng cứu công nghệ, thường xuyên tập huấn kỹ năng số, ứng dụng AI, ChatGPT.

Tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

Bà Thái Thị Thu Hường khẳng định, sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Hưng Yên đã hình thành những nền tảng quan trọng về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và hệ sinh thái ĐMST. Nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân về vai trò của KHCN, ĐMST&CĐS ngày càng được nâng lên. Hưng Yên đã chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang “đổi mới phương thức phát triển dựa trên công nghệ, dữ liệu và sáng tạo”. Đây là chuyển biến có ý nghĩa lâu dài.

Bên cạnh kết quả đạt được, tỉnh thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế như: tiến độ giải ngân vốn KHCN&CĐS còn chậm; nhân lực chuyên trách thiếu; tỷ trọng kinh tế số trong GRDP chưa cao; các cơ chế đặc thù như sandbox, quỹ đầu tư mạo hiểm, vốn mồi và cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát chưa hình thành

Thời gian tới, Hưng Yên tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và kho dữ liệu dùng chung, nâng cao chất lượng nhân lực, thúc đẩy AI và các công nghệ chiến lược. đồng thời huy động mạnh hơn nguồn lực xã hội, doanh nghiệp và các đối tác trong nước, quốc tế.

Nghị quyết 57-NQ/TW đang tạo đà để Hưng Yên lấy KHCN, ĐMST&CĐS làm động lực, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, quyết tâm bứt phá nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới.

Kim Dung