Kinh tế

Kinh tế

Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp biển

Anh Duy 11/09/2026 04:00

Nghị quyết 20-NQ/TW đã mở ra “bước ngoặt” hình thành một ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi của Việt Nam, lấy năng lượng làm điểm khởi đầu để phát triển hệ sinh thái công nghiệp biển, gắn với mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh.

2-dong-hai.jpg
Nhà máy điện gió Đông Hải, Vĩnh Long. Ảnh: T.N

Mục tiêu phát triển các dự án điện gió ngoài khơi đạt 6 - 10 GW vào năm 2030 được Nghị quyết 20-NQ/TW đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô công suất, mà ở cách tiếp cận mới: điện gió ngoài khơi được gắn với quy hoạch không gian biển, hạ tầng cảng và lưới điện, công nghiệp chế tạo, chuyển giao công nghệ và các ngành năng lượng mới.

Hạt nhân cho chuỗi công nghiệp mới

Nếu được triển khai đúng hướng, điện gió ngoài khơi có thể trở thành một trong những ngành công nghiệp nền tảng của kinh tế biển, kéo theo hàng loạt ngành phụ trợ như khảo sát biển, thiết kế, chế tạo thiết bị, đóng tàu chuyên dụng, cảng biển, logistics, xây dựng công trình ngoài khơi, cáp điện, dịch vụ kỹ thuật, bảo dưỡng và đào tạo nhân lực. Qua đó, hình thành hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ biển có giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ bổ sung một nguồn điện cho hệ thống.

“Chúng ta không nên nhìn điện gió ngoài khơi chỉ bằng số MW được lắp đặt hoặc số kWh được phát lên lưới. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển mới”, TS Dư Văn Toán, chuyên gia về môi trường, biển và hải đảo, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định.

Đồng quan điểm, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng nhấn mạnh, Việt Nam cần phát triển điện gió ngoài khơi song hành với các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ. Khi hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh, lợi thế về tài nguyên biển mới có thể được chuyển hóa thành năng lực công nghiệp, công nghệ và giá trị gia tăng cao của nền kinh tế.

Không chỉ vậy, Nghị quyết 20 còn đưa ra yêu cầu gắn cơ chế khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ. Đây có thể là điểm tạo khác biệt về chất lượng dòng vốn đầu tư vào điện gió ngoài khơi. Nếu Việt Nam chỉ thu hút vốn để xây dựng các trang trại điện gió, giá trị kinh tế chủ yếu nằm ở sản lượng điện và hoạt động xây dựng trong nước. Nhưng nếu quá trình đầu tư đồng thời tạo ra năng lực thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng, tác động đối với nền kinh tế sẽ lớn hơn nhiều.

Không chỉ là mục tiêu về công suất

Việt Nam trước hết phải tạo môi trường đủ rõ ràng để nhà đầu tư khảo sát, phát triển và huy động vốn; đồng thời chuẩn bị không gian biển, dữ liệu, cảng, lưới điện và cơ chế phân bổ rủi ro.

Quan trọng hơn, quy mô thị trường 6-10 GW phải được sử dụng để hình thành năng lực công nghiệp trong nước thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp và đào tạo nhân lực. Nếu làm được như vậy, điện gió ngoài khơi sẽ không chỉ bổ sung nguồn điện sạch cho hệ thống, mà còn tạo một thị trường đủ lớn cho công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và các ngành kinh tế biển.

Khi đó, giá trị của 6-10 GW không chỉ được tính bằng sản lượng điện hay công suất lắp đặt, mà bằng năng lực công nghệ và công nghiệp Việt Nam có được sau quá trình phát triển.

Đó mới là ý nghĩa thực chất của “bước ngoặt” mà Nghị quyết 20 mở ra, không chỉ phát triển những nhà máy điện trên biển, mà từng bước hình thành một ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi của Việt Nam, lấy năng lượng làm điểm khởi đầu để phát triển hệ sinh thái công nghiệp biển, gắn với mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh.

Anh Duy