Doanh nhân
Mở rộng không gian phát triển kinh tế biển
Nghị quyết 20-NQ/TW mở ra bước chuyển chiến lược trong phát triển kinh tế biển, đặt ra yêu cầu mới về hạ tầng, logistics, công nghệ và năng lực cạnh tranh trong tiến trình xây dựng quốc gia biển mạnh.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, ông Phạm Hồng Minh – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng (Cảng Hải Phòng) đã chia sẻ về những cơ hội, yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp cảng biển trong quá trình hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
- Thưa ông, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã nâng tầm tư duy từ “Phát triển kinh tế biển” sang “Xây dựng quốc gia biển mạnh”. Ông đánh giá như thế nào về bước chuyển này và những cơ hội, yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực cảng biển, logistics?
Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, trong đó kinh tế biển được đặt trong tổng thể quản trị không gian biển, phát triển khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đối với các doanh nghiệp cảng biển, những định hướng này mở ra không gian phát triển rất lớn, đồng thời đặt ra những yêu cầu cao hơn. Phát triển cảng biển không chỉ dừng ở việc gia tăng năng lực bốc xếp hay mở rộng quy mô khai thác, mà phải gắn với hệ thống hạ tầng kết nối, dịch vụ logistics, công nghệ và các dịch vụ giá trị gia tăng. Đây cũng là điều kiện để các doanh nghiệp trong lĩnh vực cảng biển, logistics nâng cao năng lực khai thác, thu hút các tuyến dịch vụ quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Với Cảng Hải Phòng, cơ hội không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô khai thác cảng, mà quan trọng hơn là hình thành môi trường chính sách thuận lợi để phát triển đồng bộ cảng biển, logistics, hạ tầng kết nối và các dịch vụ giá trị gia tăng. Đây là điều kiện quan trọng để chúng tôi tiếp tục thu hút các tuyến dịch vụ quốc tế, gia tăng sản lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hình thành trung tâm logistics, trung chuyển container quốc tế hiện đại của khu vực.
- Nghị quyết 20-NQ/TW xác định kinh tế biển tiếp tục là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời đặt yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh. Theo ông, lĩnh vực cảng biển cần tập trung vào những giải pháp nào để hướng tới mô hình cảng xanh, cảng thông minh?
Phát triển cảng xanh, cảng thông minh và chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu của ngành cảng biển. Đây không chỉ là yêu cầu về công nghệ mà còn liên quan trực tiếp đến năng suất, chi phí, chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng quốc tế.
Trong quá trình này, các doanh nghiệp cảng cần từng bước xây dựng nền tảng dữ liệu, tăng cường kết nối với các cơ quan quản lý và các chủ thể trong chuỗi logistics. Những công nghệ như Big Data, IoT, hệ thống quản lý khai thác cảng (TOS), ERP hay các nền tảng cảng điện tử có thể hỗ trợ tự động hóa, chia sẻ dữ liệu và tối ưu hóa nguồn lực.
Cùng với chuyển đổi số, phát triển xanh cũng cần được đặt trong quá trình đầu tư và vận hành cảng biển. Việc sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm phát thải, tăng cường thiết bị và phương tiện sử dụng năng lượng sạch, cùng với quản lý môi trường trong khu vực cảng sẽ ngày càng trở thành những tiêu chí quan trọng.
Đây là quá trình cần nguồn lực đầu tư lớn và sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các đối tác trong chuỗi logistics. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, cần có cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích đầu tư công nghệ và chuyển đổi xanh trong lĩnh vực cảng biển.
.jpg)
Tại Cảng Hải Phòng, chúng tôi xác định định hướng trong Nghị quyết 20-NQ/TW sẽ tạo động lực để tiếp tục phát triển dựa trên công nghệ, dữ liệu, năng suất và chất lượng dịch vụ. Công nghệ và đổi mới quy trình là những yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, tối ưu hóa dòng hàng, dòng phương tiện và nguồn lực.
- Để hiện thực hóa mục tiêu "vươn ra biển lớn", theo ông, đâu là những yếu tố cần được ưu tiên trong thời gian tới?
Để hiện thực hóa mục tiêu “vươn ra biển lớn”, việc duy trì và mở rộng các tuyến dịch vụ quốc tế là yếu tố then chốt đối với sự phát triển của cảng biển. Tuy nhiên, khả năng thu hút các hãng tàu lớn không chỉ phụ thuộc vào quy mô cảng mà còn nằm ở tổng thể chất lượng dịch vụ và hiệu quả của toàn bộ chuỗi logistics.
Muốn thu hút các tập đoàn vận tải biển hàng đầu, cảng biển phải sở hữu năng lực khai thác phù hợp, hạ tầng đồng bộ, năng suất ổn định, thời gian giải phóng tàu hợp lý và khả năng kết nối thuận lợi với các vùng sản xuất, tiêu dùng. Đi kèm với đó là yêu cầu bắt buộc về số hóa, minh bạch thông tin và cung cấp các dịch vụ logistics đa dạng. Do đó, việc xúc tiến các tuyến dịch vụ mới cần được triển khai song song với đầu tư hạ tầng, nâng cao năng suất, chuyển đổi số và hoàn thiện kết nối giao thông đa phương thức - những nền tảng quyết định sức cạnh tranh dài hạn.
Trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động liên tục, các doanh nghiệp cảng phải chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn mới về công nghệ, môi trường và dịch vụ; đồng thời thắt chặt hợp tác với cơ quan quản lý và các đối tác trong chuỗi logistics để tối ưu hóa hiệu quả chung.
“Vươn ra biển lớn” không đơn thuần là mở rộng các tuyến vận tải, mà là quá trình nâng tầm năng lực quản trị, công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kết nối thương mại quốc gia với thế giới.
- Trân trọng cảm ơn ông!