Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Siết “vùng mờ” chi phí đưa người lao động ra nước ngoài

Nguyễn Giang 12/09/2026 17:00

Minh bạch từng khoản thu, đưa dòng tiền qua hệ thống có thể truy vết được kỳ vọng sẽ hạn chế những rủi ro người lao động có thể gặp trước khi ra nước ngoài làm việc…

Đi làm việc ở nước ngoài thường đòi hỏi người lao động chuẩn bị một khoản tiền không nhỏ. Nhưng bên cạnh câu chuyện tổng chi phí bao nhiêu, vấn đề quan trọng hơn là người lao động có biết rõ mình đang nộp khoản gì, nộp cho ai và có chứng từ chứng minh hay không.

Ý kiến đề xuất cấm xuất cảnh đối với lao động từng vi phạm pháp luật ở nước ngoài đang đặt ra câu hỏi về phạm vi, điều kiện và tính tương xứng của biện pháp này. Ảnh: Nguyễn Giang
Minh bạch từng khoản thu, đưa dòng tiền qua hệ thống có thể truy vết được kỳ vọng sẽ hạn chế những rủi ro người lao động có thể gặp trước khi ra nước ngoài làm việc. Ảnh: Nguyễn Giang

Đây cũng là một trong những nội dung đang được Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ) tập trung kiểm soát trong quá trình triển khai các giải pháp bảo vệ người lao động.

Theo ông Nguyễn Hải Lý - Phó Trưởng phòng Pháp chế, Cục Quản lý lao động ngoài nước, một trong những nhóm giải pháp trọng tâm là nâng cao khả năng tiếp cận thông tin để người lao động có thể tra cứu điều kiện pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ, các đơn hàng đã được phê duyệt, hợp đồng mẫu cũng như biểu mẫu các khoản chi phí theo quy định.

Cùng với đó, công tác đào tạo, giáo dục định hướng được tăng cường về ngoại ngữ, chuyên môn, văn hóa, pháp luật nước tiếp nhận lao động, kỹ năng thích ứng và phòng ngừa rủi ro lừa đảo trước khi xuất cảnh.

Đáng chú ý, bên cạnh việc kiểm soát các khoản chi phí, cơ quan quản lý đang thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và xuất hóa đơn điện tử đối với các khoản người lao động nộp cho doanh nghiệp. Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng phát triển ứng dụng để người lao động có thể trực tiếp tra cứu tính pháp lý của hợp đồng và phản ánh vi phạm.

Những giải pháp này hướng tới một vấn đề khá rõ: dòng tiền trước khi người lao động xuất cảnh cần được minh bạch hơn. Bởi nếu tiền được giao bằng tiền mặt, chuyển qua một đầu mối trung gian hoặc tài khoản cá nhân nhưng thiếu căn cứ, chứng từ, khi xảy ra tranh chấp, việc xác định ai đã nhận tiền và nhận với tư cách gì sẽ trở nên phức tạp.

Không chỉ hỏi “phải nộp bao nhiêu?”

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp – Giám đốc Công ty Luật HPVN cho rằng, khi tìm hiểu chương trình đi làm việc ở nước ngoài, người lao động thường quan tâm trước hết đến tổng số tiền phải chuẩn bị. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, tổng số tiền chưa phải thông tin quan trọng duy nhất.

Điều người lao động cần biết là từng khoản tiền được thu với căn cứ nào, có nằm trong hợp đồng hay không, ai là chủ thể thu và sau khi thanh toán có được cung cấp chứng từ tương ứng.

Không nên chỉ dừng ở câu hỏi phải nộp tổng cộng bao nhiêu tiền. Người lao động cần yêu cầu làm rõ từng khoản là khoản gì, căn cứ thu ở đâu, đơn vị nào thu và được thể hiện như thế nào trong hồ sơ, hợp đồng. Càng rõ từ trước khi nộp tiền thì khi phát sinh vấn đề càng có cơ sở để bảo vệ quyền lợi”, Luật sư Hiệp phân tích.

Theo Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp, rủi ro đáng lưu ý thường xuất hiện khi dòng tiền đi ra ngoài quan hệ chính thức giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ. Chẳng hạn, người lao động được yêu cầu nộp thêm tiền cho một người giới thiệu, chuyển vào tài khoản cá nhân hoặc giao tiền mặt nhưng không nhận được chứng từ thể hiện rõ mục đích giao dịch.

Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp – Giám đốc Công ty Luật HPVN.
Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp – Giám đốc Công ty Luật HPVN. Ảnh: NVCC

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, câu hỏi không chỉ là người lao động đã giao tiền hay chưa mà còn phải xác định khoản tiền đó được giao nhằm thực hiện nghĩa vụ nào, người nhận có tư cách nhận tiền hay không và có mối liên hệ thế nào với doanh nghiệp.

Vì vậy, việc đưa các khoản thanh toán qua ngân hàng và gắn với hóa đơn, chứng từ có ý nghĩa lớn hơn câu chuyện thay đổi phương thức trả tiền. Dòng tiền để lại dấu vết giúp việc đối chiếu chủ thể nhận, số tiền, thời điểm và nội dung giao dịch rõ ràng hơn.

Để dòng tiền có thể truy vết

Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp lưu ý, bản thân việc chuyển khoản cũng không đương nhiên làm cho một giao dịch trở nên hợp pháp. Nếu người lao động chuyển tiền vào tài khoản cá nhân không rõ tư cách, nội dung giao dịch không rõ ràng hoặc nộp một khoản không có căn cứ thì rủi ro vẫn tồn tại.

Điều quan trọng không chỉ là chuyển khoản hay trả tiền mặt. Dòng tiền phải đi đúng chủ thể, đúng nội dung và có hồ sơ, chứng từ tương ứng. Khi ba yếu tố này gắn với nhau, khả năng xác định trách nhiệm nếu xảy ra tranh chấp sẽ rõ hơn”, Luật sư Hiệp nhận định.

Theo Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp, việc tăng khả năng tra cứu giấy phép của doanh nghiệp, thông tin đơn hàng, hợp đồng và chi phí cũng đặc biệt cần thiết trong bối cảnh không ít người lao động tiếp cận cơ hội đi làm việc ở nước ngoài thông qua giới thiệu của người quen hoặc các đầu mối trung gian.

Khi có một nguồn dữ liệu chính thức để đối chiếu, người lao động có thể kiểm tra trước những lời mời chào về đơn hàng, mức phí, thời gian xuất cảnh hoặc yêu cầu đóng tiền. Qua đó, khoảng cách thông tin giữa doanh nghiệp, người môi giới và người lao động cũng có thể được thu hẹp

Luật sư Hiệp cho rằng, đây mới là điểm cần được chú trọng nếu muốn hạn chế những khoản thu nằm ngoài sự kiểm soát. Bởi chỉ yêu cầu người lao động “cảnh giác” sẽ khó đủ khi chính họ thường ở vị thế thiếu thông tin, trong khi quyết định đi làm việc ở nước ngoài có thể gắn với một khoản tiền lớn, thậm chí là tiền vay.

Người lao động cần có khả năng kiểm tra trước khi nộp tiền: doanh nghiệp có đủ điều kiện hoạt động hay không, đơn hàng có cơ sở hay không, hợp đồng quy định những khoản nào và tiền sẽ được chuyển cho ai. Khi mỗi khoản thu đều có căn cứ, đi đúng chủ thể và để lại dấu vết có thể kiểm chứng, những “vùng mờ” về chi phí sẽ khó tồn tại hơn”, Luật sư Nguyễn Trọng Hiệp nhấn mạnh.

Nguyễn Giang