Nghiên cứu - Trao đổi
Sửa Luật An toàn thực phẩm: Lo thủ tục “lấn” hậu kiểm
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới quản lý theo rủi ro, tăng hậu kiểm, song doanh nghiệp lo một số thủ tục có thể làm phân tán nguồn lực kiểm soát…
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đang được tiếp tục lấy ý kiến, hoàn thiện với định hướng chuyển mạnh sang quản lý theo chuỗi, dựa trên phân tích nguy cơ, tăng cường hậu kiểm và số hóa dữ liệu.

Hướng tiếp cận này nhận được sự đồng tình của cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều hiệp hội cho rằng điều quan trọng là các thủ tục cụ thể phải được thiết kế nhất quán với mục tiêu quản lý theo rủi ro, tránh để nguồn lực của doanh nghiệp và cơ quan quản lý lại dồn vào xử lý hồ sơ thay vì kiểm soát nguy cơ thực tế trên thị trường.
Một trong những vấn đề được quan tâm là cơ chế công bố sản phẩm. Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM (FFA) cho rằng, nếu quá trình công bố đi kèm việc doanh nghiệp phải nộp hồ sơ, chờ cơ quan quản lý tiếp nhận, xem xét hoặc yêu cầu bổ sung trước khi sản phẩm được lưu thông thì có nguy cơ phát sinh thêm một lớp thủ tục mang tính tiền kiểm.
Trong khi đó, cơ chế tự công bố hiện hành được doanh nghiệp đánh giá có ưu điểm ở nguyên tắc doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về sản phẩm, còn cơ quan quản lý tập trung nguồn lực cho hậu kiểm. Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA) vì vậy đề nghị tiếp tục kế thừa tinh thần này, đồng thời chuyển trọng tâm quản lý sang cơ sở khoa học, mức độ rủi ro, dữ liệu và lịch sử tuân thủ.
Mối lo lớn hơn nằm ở cơ chế chuyển tiếp đối với lượng sản phẩm đã hoàn tất thủ tục và đang lưu hành hợp pháp. VDA dẫn dữ liệu giai đoạn 2018 - 2022 cho thấy, tại 50/63 tỉnh, thành phố đã có 335.270 hồ sơ tự công bố và 53.910 hồ sơ đăng ký bản công bố. Từ đó, hiệp hội ước tính đến năm 2026 có khoảng 397.000 - 550.000 hồ sơ đang hoạt động có thể chịu tác động nếu phải thực hiện lại hoặc chuyển đổi thủ tục.
Theo tính toán của VDA, trong kịch bản này, doanh nghiệp có thể phải dành hơn 3,6 triệu giờ làm việc cho việc chuyển đổi, trong khi cơ quan nhà nước cần khoảng 507.000 giờ xử lý. FFA cũng ước tính khối lượng thủ tục có thể tăng từ 2,7 - 4 lần.
Đây là những ước tính của các hiệp hội theo phương án đang được góp ý, song cũng đặt ra câu hỏi đáng lưu ý: nếu sản phẩm đã hoàn thành thủ tục, đang lưu hành hợp pháp và không có thay đổi trọng yếu, việc yêu cầu thực hiện lại hồ sơ có thực sự cần thiết hay không?
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, Luật sư Lê Thị Nhung - Giám đốc Công ty Luật L&A Legal Experts cho rằng, bảo đảm an toàn thực phẩm phải là yêu cầu đặt lên hàng đầu, nhưng quản lý chặt không đồng nghĩa với việc tất cả sản phẩm và doanh nghiệp đều phải chịu một mức thủ tục như nhau.
“Khi chính sách đã lựa chọn quản lý theo rủi ro thì biện pháp quản lý cũng phải được phân tầng tương ứng. Sản phẩm có nguy cơ cao cần được kiểm soát chặt; nhóm nguy cơ thấp và doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt cần có cơ chế phù hợp hơn. Nếu mọi chủ thể đều phải đi qua quy trình gần tương đương thì ưu điểm của quản lý theo rủi ro sẽ khó được phát huy”, Luật sư Nhung phân tích.
Theo Luật sư Lê Thị Nhung, cơ chế chuyển tiếp là một trong những nội dung cần được cân nhắc kỹ. Nếu yêu cầu một lượng lớn sản phẩm đã hoàn tất thủ tục và đang lưu hành hợp pháp phải thực hiện lại hồ sơ, cần đánh giá đầy đủ sự cần thiết, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp cũng như khả năng xử lý của cơ quan quản lý.
Trường hợp sản phẩm không có thay đổi trọng yếu, doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt và chưa xuất hiện căn cứ cho thấy nguy cơ gia tăng, việc phát sinh thêm thủ tục cần được chứng minh bằng yêu cầu quản lý cụ thể. Ngược lại, với sản phẩm có nguy cơ cao hoặc doanh nghiệp từng vi phạm, cơ quan quản lý phải có đủ công cụ và nguồn lực để kiểm tra, truy xuất, lấy mẫu và xử lý kịp thời.
Luật sư Nhung cho rằng, số hóa dữ liệu chính là một trong những điều kiện để mô hình này vận hành hiệu quả. Khi thông tin về sản phẩm, doanh nghiệp, kết quả kiểm tra và lịch sử tuân thủ được kết nối, cơ quan quản lý có thể nhận diện chính xác hơn những nhóm cần tập trung kiểm soát, thay vì phân bổ nguồn lực tương tự cho tất cả.
Điều này cũng tạo động lực tuân thủ. Doanh nghiệp quản trị tốt, minh bạch dữ liệu và có lịch sử chấp hành pháp luật tốt cần được phản ánh trong mức độ kiểm tra; ngược lại, sản phẩm có nguy cơ cao hoặc chủ thể từng vi phạm phải chịu sự giám sát tương xứng.
“Hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm không nằm ở số lượng hồ sơ được xử lý, mà ở khả năng phát hiện và kiểm soát đúng nguy cơ. Nếu nguồn lực được dành nhiều hơn cho hậu kiểm, giám sát thị trường và xử lý vi phạm, mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng sẽ được thực hiện thực chất hơn, đồng thời tránh tạo thêm chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp làm đúng”, Luật sư Lê Thị Nhung nhấn mạnh.