Nghiên cứu - Trao đổi
Phát triển công nghiệp văn hóa: Cần hình thành cơ chế phát triển mới
Để giải phóng năng lượng sáng tạo và thị trường, đồng thời bảo đảm giá trị bản sắc văn hóa, góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, không ít ý kiến cho rằng, cần hình thành cơ chế phát triển mới.
Như đã thông tin, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng nhằm hướng tới ba mục tiêu: Xác lập địa vị pháp lý của công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; kết nối chuỗi giá trị để thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp; thông qua sản phẩm và thị trường để quảng bá giá trị văn hóa và thương hiệu Việt Nam.

Dự thảo được xây dựng gồm 9 Chương, 54 Điều, dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026), tập trung vào 6 trụ cột chính gồm: Hệ sinh thái sáng tạo, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, thị trường và nguồn lực tài chính. Các chính sách được thiết kế thành một chuỗi liên kết từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư, trong đó người sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ được đặt ở vị trí trung tâm.
Trong đó, liên quan đến tài chính và đầu tư, Dự thảo đề xuất cơ chế đồng đầu tư, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với khu vực tư nhân; áp dụng chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, hải quan đối với hạ tầng, doanh nghiệp, startup và cá nhân sáng tạo.
Đây được cho là một trong những nội dung nhằm tạo nguồn lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, để giải phóng năng lượng sáng tạo và thị trường, đồng thời bảo đảm giá trị bản sắc văn hóa, góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, không ít ý kiến cho rằng cần hình thành cơ chế phát triển mới.
Theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Dự thảo tập trung vào các nhóm chính sách lớn như tài sản trí tuệ, hạ tầng công nghiệp văn hóa, nhân lực, thị trường và thu hút đầu tư. Cách tiếp cận này đáng ghi nhận vì luật bắt đầu được xây dựng theo các yếu tố cấu thành một hệ sinh thái phát triển, thay vì chỉ theo tư duy quản lý từng hoạt động văn hóa.

Điểm mới đáng chú ý nhất là đặt tài sản trí tuệ ở vị trí trung tâm. Một doanh nghiệp sản xuất có thể có đất đai, nhà xưởng, máy móc để làm tài sản bảo đảm; nhưng doanh nghiệp sáng tạo có thể chỉ sở hữu một kịch bản hay, một hình tượng nhân vật, một thương hiệu, một thiết kế, một phần mềm hay cộng đồng người sử dụng - Đó đều có thể là những tài sản rất có giá trị, nhưng việc định giá, góp vốn hay tiếp cận tín dụng hiện vẫn khó. Nếu luật tạo được cơ chế nhận diện, định giá, giao dịch và khai thác minh bạch hơn, đây sẽ là một cánh cửa vốn rất quan trọng cho khu vực sáng tạo.
Cũng theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn, điểm thứ hai, Dự thảo nhìn hạ tầng công nghiệp văn hóa rộng hơn những thiết chế truyền thống. Hạ tầng hôm nay không chỉ là nhà hát, bảo tàng hay trung tâm triển lãm mà còn là phim trường, không gian sáng tạo, nền tảng số và hạ tầng dữ liệu. Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 về hạ tầng văn hóa số cho thấy hạ tầng văn hóa đang bước vào một giai đoạn mới.
Tuy nhiên, Dự thảo vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Theo đó, luật phải thật sự là luật phát triển, không trở thành một lớp thủ tục mới. Nếu mỗi sản phẩm “trọng điểm”, mỗi khu sáng tạo, mỗi tài sản trí tuệ hay thương hiệu lại phải qua một quy trình xin công nhận rồi mới được hưởng chính sách, có thể vô tình hình thành thêm một vòng “xin-cho”.
“Chính sách hỗ trợ nên chuyển mạnh từ “công nhận tư cách” sang đo bằng kết quả. Một doanh nghiệp được hỗ trợ thì cần nhìn xem đã tạo ra bao nhiêu việc làm, tài sản trí tuệ, doanh thu, xuất khẩu hay tác động xã hội. Một khu sáng tạo cần được đánh giá bằng số doanh nghiệp, người sáng tạo, sản phẩm và hoạt động thực tế, chứ không phải bằng tấm biển treo ở cổng”, PGS TS Bùi Hoài Sơn chia sẻ.
Liên quan đến vấn đề này, góp ý Dự thảo Luật trước đó, đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng cho rằng, điều quan trọng nhất để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào công nghiệp văn hóa là niềm tin vào thể chế.
Doanh nghiệp cần môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ; các quy định về đầu tư, thuế, đất đai, tài chính, thương mại được kết nối. Đồng thời, nhà đầu tư phải nhìn thấy khả năng khai thác, thương mại hóa và thu hồi vốn từ sản phẩm sáng tạo.
Đây là vấn đề đáng chú ý bởi một dự án công nghiệp văn hóa có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật. Từ hình thành ý tưởng, đầu tư sản xuất, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đến phân phối, thương mại hóa và đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế đều liên quan tới những quy định khác nhau.
Theo đại diện VCCI, Dự thảo Luật vì vậy không nên tạo thêm một “lớp” thủ tục pháp lý, mà cần hình thành khung pháp lý liên thông, xử lý các điểm giao thoa và tháo gỡ điểm nghẽn giữa những hệ thống pháp luật liên quan.
Luật cũng cần bảo đảm tính tương thích với pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, thuế, đất đai, tín dụng, thương mại và sở hữu trí tuệ; tránh tình trạng dự án được khuyến khích theo chính sách văn hóa nhưng khi triển khai lại vướng pháp luật chuyên ngành. Cơ chế phối hợp, thủ tục cũng cần đủ rõ để doanh nghiệp không phải đi qua nhiều cơ quan với những cách hiểu khác nhau.
Đồng quan điểm, một số ý kiến cũng cho hay, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần xây dựng theo hướng, không chỉ xác lập thêm các chính sách hỗ trợ một lĩnh vực mới, mà cần tạo dựng được một phương thức phát triển mới, trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế, thị trường phân bổ nguồn lực và doanh nghiệp trở thành lực lượng trực tiếp biến sức sáng tạo thành giá trị.