Kinh tế
Hiện thực hóa trung tâm năng lượng tái tạo
Được cho là giải pháp có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp và đóng góp vào quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam, tuy nhiên, việc thực hiện hóa các trung tâm năng lượng tái tạo vẫn là bài toán cần lời giải.

Phát triển năng lượng tái tạo và thực hiện chuyển dịch xanh là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định định hướng chiến lược này.
Mục tiêu cụ thể
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, phát triển năng lượng tái tạo không chỉ dừng ở việc mở rộng công suất nguồn điện mà còn phải gắn với phát triển công nghiệp, hạ tầng, chuỗi cung ứng, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.
Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh) đã định hướng xây dựng các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng tại những khu vực có tiềm năng lớn nhằm gắn phát triển năng lượng tái tạo với công nghiệp hỗ trợ và nội địa hóa chuỗi giá trị.
Việc nghiên cứu và từng bước hình thành các trung tâm này được cho là sẽ góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng tái tạo, thúc đẩy phát triển công nghiệp và hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng quốc gia.
Định hướng trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh nêu rõ, đến năm 2030, Việt Nam dự kiến hình thành hai trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng. Nhu cầu phát triển các trung tâm năng lượng tái tạo xuất phát từ triển vọng tăng trưởng rất lớn của các nguồn điện xanh trong những thập kỷ tới.
Theo kịch bản quy hoạch, đến năm 2050, công suất điện gió trên bờ và gần bờ có thể đạt từ 84.696 - 91.400 MW, điện gió ngoài khơi đạt từ 113.503 - 139.097 MW, điện mặt trời (điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà) đạt khoảng 293.088 - 295.646 MW. Các loại hình như điện sinh khối, điện rác, thủy điện tích năng và hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin cũng sẽ được mở rộng.
Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa các trung tâm năng lượng tái tạo được cho là cũng đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là hạ tầng cảng biển phục vụ điện gió ngoài khơi.
Hiện thực hóa thế nào?
Chia sẻ tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển Trung tâm Năng lượng tái tạo tại Việt Nam” mới đây, Bí thư thứ hai, Phó trưởng Bộ phận Hợp tác phát triển, Đại sứ quán Đức Michael Lehmann cho rằng, Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng sạch, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, nhưng để biến tiềm năng thành dự án và năng lực công nghiệp cần đồng thời giải quyết hạ tầng, logistics, kỹ thuật và sự phối hợp giữa những bên liên quan.
Trong khi đó, phân tích vai trò chiến lược của mô hình trung tâm năng lượng tái tạo, các tiêu chí lựa chọn địa điểm và tiềm năng phát triển chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, TS Phạm Quý Ngọc, Trưởng phòng Khí, Điện và Năng lượng mới, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho rằng, Việt Nam đã có một số năng lực nền tảng có thể khai thác để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, như chế tạo kết cấu thép, công trình ngoài khơi, cảng biển, logistics và nguồn nhân lực kỹ thuật.
Tuy nhiên, để hình thành hệ sinh thái điện gió ngoài khơi trong nước, Việt Nam vẫn cần tiếp tục phát triển những năng lực còn thiếu, đồng thời xác định các khu vực có lợi thế để ưu tiên đầu tư.
Xoay quanh vấn đề này, trước đó, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) cho biết, theo kinh nghiệm từ châu Âu, nhiều trung tâm sản xuất năng lượng tái tạo có cơ chế bảo đảm nguồn điện phục vụ sản xuất đến từ chính năng lượng tái tạo.
GIZ cho rằng, cần áp dụng quy hoạch toàn diện dựa trên các đặc trưng của trung tâm năng lượng tái tạo. Các trung tâm này cần được thiết kế như những hệ sinh thái công nghiệp cấp vùng, tích hợp nhiều yếu tố: Sản xuất các thiết bị năng lượng tái tạo quy mô lớn, đặc biệt tại các cảng biển để phục vụ ngành điện gió ngoài khơi; sản xuất điện (như kết hợp điện mặt trời và hệ thống lưu trữ, hoặc các trang trại điện gió) để cung cấp cho các ngành công nghiệp lân cận (thông qua cơ chế Hợp đồng mua bán điện trực tiếp - DPPA); các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu và phát triển, phù hợp với nhu cầu phát triển của từng địa phương; các chính sách công nghiệp nhằm thu hút đầu tư vào khu vực.
Cụ thể, GIZ khuyến nghị, trước tiên cần đánh giá các vùng/tỉnh tiềm năng ở Việt Nam phù hợp để xây dựng các trung tâm sản xuất điện gió ngoài khơi, tiếp theo là thực hiện phân tích chuỗi giá trị cho các công nghệ năng lượng tái tạo khác, đồng thời xem xét phát triển thêm các trung tâm sản xuất riêng biệt cho các công nghệ năng lượng tái tạo khác hoặc đưa ra các chính sách khuyến khích để các nhà máy sử dụng các công nghệ khác đến đặt cùng vị trí với các trung tâm sản xuất điện gió ngoài khơi.