Kinh tế

Kinh tế

Mở cửa “vùng trời” kinh tế tầm thấp

Hạnh Lê 20/09/2026 04:23

Tại Nghị quyết số 19 - NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, phát triển kinh tế không gian tầm thấp được định hướng trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, có năng lực cạnh tranh cao.

uav2.jpg
Sản phẩm UAV của HTI UAS nhận được sự quan tâm của nhiều chuyên gia, doanh nghiệp và khách tham quan quốc tế tại Japan Drone Expo 2026.

Trong không gian kinh tế tầm thấp, phương tiện bay không người lái (UAV) là một trong những cấu phần quan trọng. Đằng sau ngành công nghiệp hiện đại này là một hệ sinh thái hoàn chỉnh với phạm vi ứng dụng trải rộng ở nhiều ngành, nghề của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kiến tạo những mô hình kinh doanh, ngành kinh tế mới. Cơ hội lớn đang mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia và làm chủ nhiều công đoạn trong hệ sinh thái đó.

Giá trị gia tăng lớn

Chia sẻ về định hướng cụ thể phát triển kinh tế không gian tầm thấp, ông Nguyễn Văn Thuật - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết: Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi đây là một ngành kinh tế chiến lược, tích cực thử nghiệm các mô hình dịch vụ mới dựa trên công nghệ UAV.

Tuy nhiên, không chỉ phát triển công nghệ bay, cách tiếp cận chung mà các quốc gia đang triển khai là xây dựng hệ sinh thái công nghiệp, dịch vụ cho kinh tế không gian tầm thấp. Nói cách khác, thiết bị bay chỉ là phương tiện, giá trị kinh tế thực sự nằm ở hệ sinh thái ứng dụng và các dịch vụ đi kèm. Đây cũng là định hướng mà Bộ Khoa học và Công nghệ lựa chọn khi nghiên cứu phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Việt Nam.

PGS TS Nguyễn Huy Hoàng - Học viện Kỹ thuật Quân sự đồng quan điểm: UAV chỉ tạo giá trị khi thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như: nông nghiệp, giám sát lâm nghiệp, logistics, y tế…

Trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển hệ sinh thái phương tiện không người lái giai đoạn 2026 - 2030 tầm nhìn đến năm 2035 cho tỉnh Tây Ninh, PGS TS Nguyễn Huy Hoàng tham gia khảo sát đánh giá sử dụng thiết bị UAV tại địa phương. Kết quả nhận được rất khả quan. Đơn cử, trên diện tích trồng cao su trưởng thành rộng 10 ha, theo yêu cầu, UAV chỉ mất 30 phút là hoàn thành nhiệm vụ bay và đếm số cây chưa phát triển đủ ba tầng lá. Trong khi thực hiện bằng phương pháp kiểm đếm thủ công, để hoàn thành công việc này cần huy động nhiều nhân lực và trang thiết bị.

Tại Lâm Đồng, qua thực hiện khảo sát tương tự, PGS TS Nguyễn Huy Hoàng thông tin: Trên diện tích trồng cà phê và sầu riêng, UAV thực hiện phun tưới theo block 200 lít trong vòng một giờ đồng hồ, từ khâu chuẩn bị đến thực hành với tổng chi phí từ 600.000 - 700.000 đồng. Công việc này thực hiện bằng sức người cần 3 ngày mới xong với tiền công khoảng 700.000 đồng/ngày. Từ những hiệu quả kinh tế, năng suất lao động cải thiện rõ rệt trong nông nghiệp công nghệ cao, y tế khẩn cấp, giám sát hạ tầng… thời gian qua, một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Tây Ninh, Điện Biên, Lâm Đồng, Đà Nẵng đã bổ sung trọng tâm ưu tiên phát triển UAV vào chiến lược phát triển kinh tế không gian tầm thấp.

Kết nối mảnh ghép của ngành công nghiệp mới

Theo PGS TS Nguyễn Huy Hoàng: Thời điểm hiện nay, những mảnh ghép chính để Việt Nam phát triển hệ sinh thái kinh tế không gian tầm thấp đã và đang hình thành. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư thích đáng cho R&D, thiết bị, thiết lập hạ tầng vận hành. Cùng với sự phát triển của ngành bán dẫn, hạ tầng viễn thông đã sẵn sàng khi doanh nghiệp trong nước đã làm chủ công nghệ sản xuất trạm 5G và đang chuẩn bị cho thế hệ mạng 6G tiếp theo.

Ngoài ra, tỷ lệ phủ sóng 5G đạt khoảng 92% dân số, tốc độ băng thông di động đạt khoảng 210,85 Mb/giây đứng thứ 9 thế giới… Vấn đề quan trọng còn lại là kết nối những mảnh ghép trên thành một hệ sinh thái đủ mạnh, chuyển hoá những nguồn lực thành sản phẩm, dịch vụ và những mô hình kinh doanh mới.

Với một lĩnh vực mới và đang phát triển nhanh như công nghệ UAV, khó khăn lớn nhất không phải là công nghệ mà là cơ chế, chính sách, hệ thống hạ tầng thử nghiệm cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Tạ Ngọc Thanh - Giám đốc công ty HTI UAS cho biết: Quá trình nghiên cứu và sản xuất UAV của doanh nghiệp đang gặp khó khăn do các quy định hiện hành chưa thống nhất, tạo vòng luẩn quẩn. Cụ thể, để hoàn thiện hồ sơ cấp phép nghiên cứu, sản xuất, chế tạo UAV theo quy định, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm thử, bay thử.

Tuy nhiên, muốn bay thử thì phải có giấy phép; song với một mẫu UAV đang nghiên cứu, chưa hoàn thiện hồ sơ thì không có cơ sở nào để được cấp phép bay thử? Ngoài ra, do đây là ngành công nghiệp có tính liên ngành cao, mỗi cơ quan quản lý một khâu, thiếu kiến trúc quản trị thống nhất, doanh nghiệp sẽ rất vất vả, mất nhiều thời gian, chi phí tuân thủ khi tự kết nối cũng như khó đáp ứng hết các yêu cầu của từng cơ quan.

Qua quá trình tiếp xúc với một số doanh nghiệp, PGS TS Nguyễn Huy Hoàng nhận thấy, điểm nghẽn lớn trong xin giấy phép, đủ điều kiện sản xuất do nhiều thủ tục hành chính, khiến việc triển khai nghiên cứu, sản xuất bị chậm tiến độ, doanh nghiệp khó mở rộng quy mô và thị trường cũng khó phát triển. Những vướng mắc còn đến từ việc thiếu khu vực bay thử nghiệm có quy mô đủ để đánh giá tính an toàn kỹ thuật trước khi thương mại hóa sản phẩm

Sandbox mở đường phát triển

Đối với một lĩnh vực mới như công nghiệp UAV, rõ ràng khó khăn lớn nhất không phải là công nghệ mà là thể chế. Nếu chậm chễ trong việc xây dựng chính sách, Việt Nam có thể sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển và trở thành thị trường ứng dụng công nghệ của các quốc gia khác.

Ngược lại, nếu buông lỏng rủi ro sẽ tăng bởi đây là lĩnh vực liên quan đến an toàn bay, tài sản, dân cư, dữ liệu quốc phòng, an ninh. Theo PGS TS Nguyễn Huy Hoàng, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) với lĩnh vực bay không người lái được xem như một giải pháp hiệu quả để giải quyết bài toán trên. Cơ chế thử nghiệm cần xác định rõ khu vực thử nghiệm, loại thiết bị được thử nghiệm, loại nhiệm vụ được cấp phép thử nghiệm cũng như các điều kiện kỹ thuật tối thiểu yêu cầu về người điều khiển, quy trình cấp phép, cơ chế giám sát...

Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, cần triển khai ngay khu vực bay thử nghiệm, thiết lập hạ tầng quản lý không lưu quốc gia. Có như vậy, doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư, nghiên cứu, sản xuất, thử nghiệm phát triển sản phẩm cho môi trường hợp pháp. Còn các cơ quan quản lý có dữ liệu để từng bước hoàn thiện chính sách.

Ngoài cơ chế, chính sách, các chuyên gia cho rằng: Với lĩnh vực mới, trong giai đoạn đầu phát triển, thị trường tư nhân chưa đủ lớn để chi trả cho dịch vụ mới này, Nhà nước cần đóng vai trò “bà đỡ”, kiến tạo thị trường. Điều này có nghĩa là Nhà nước là khách hàng đầu tiên, đặt hàng và định hướng các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết hoặc đặt hàng theo các kết quả trong lĩnh vực ứng dụng thiết yếu.

Với cách tiếp cận này, các doanh nghiệp không chỉ có nguồn thu ban đầu mà từ hiệu quả được kiểm chứng trong khu vực công, sản phẩm dịch vụ được lan toả, nhân rộng nhanh hơn, góp phần mở rộng thị trường.

Hạnh Lê