Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Doanh nghiệp ngành in trước cơ hội tham gia sâu vào chuỗi cung ứng

Quân Bảo • 24/09/2026 10:56

Ngành in TP HCM đang chuyển từ gia công truyền thống sang tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, hướng tới trở thành một mắt xích của công nghiệp hỗ trợ và kinh tế sáng tạo.

Dư địa lớn chưa khai thác

Ngành in đang có dư địa phát triển lớn khi nhu cầu in ấn ngày càng gắn với hoạt động sản xuất hàng hóa. Tại Diễn đàn kinh tế ngành In Thành phố Hồ Chí Minh 2026, ông Nguyễn Tri Quang, Phó Chủ tịch Hội In TP HCM, cho biết sự chuyển dịch từ in xuất bản phẩm sang bao bì đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với làn sóng FDI đầu tư vào lĩnh vực in ấn tại Việt Nam.

degaharu-pottuheuzha-unsplash-696def8ee50e627adca7a2f414e13812.jpg
Ngành in chuyển dịch từ gia công sang đóng góp vào giá trị thương hiệu

Đến đầu năm 2026, cả nước có khoảng 3.580 cơ sở in được cấp phép hoạt động. Doanh thu ngành in năm 2025 đạt khoảng 158.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 6,2 tỷ USD, tăng khoảng 8% so với năm 2024. Theo dự thảo thống kê, địa bàn TP HCM sau hợp nhất có khoảng 1.360 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ in ấn, đóng góp 99.200 tỷ đồng doanh thu năm 2025.

Tuy nhiên, quy mô thị trường chưa đồng nghĩa với mức độ tham gia sâu của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng. Bà Lâm Thị Xuân Hương, Phó Trưởng phòng Báo chí Xuất bản, Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM, cho biết ngành in TP HCM chưa được nhận diện đầy đủ trong hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, dù sản phẩm in và bao bì là đầu vào của hầu hết các ngành sản xuất hàng hóa. Khoảng 65% lượng hàng in và bao bì cho xuất khẩu tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong khi số doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng xuất khẩu trong nước còn hạn chế.

Điểm nghẽn của chuỗi sản xuất

Sự dịch chuyển sang bao bì đồng thời đặt ra yêu cầu mới về năng lực cung ứng. Khi sản phẩm in ngày càng gắn với hoạt động sản xuất, yêu cầu của khách hàng cũng mở rộng từ một sản phẩm in đạt yêu cầu sang khả năng đáp ứng đồng bộ về chất lượng, vật liệu, tiêu chuẩn và tiến độ.

Ông Terry Koufidis, CEO Exolink Australia, nhận định ngành in và bao bì hiện đại đang chuyển từ sản xuất bao bì thuần túy sang đóng góp vào hiệu quả đầu tư (ROI), marketing và xây dựng thương hiệu (branding) cho sản phẩm.

Trong khi đó, nhiều nguồn lực quan trọng của ngành in vẫn phụ thuộc bên ngoài. Bà Lâm Thị Xuân Hương cho biết công nghệ, thiết bị và nhiều nguyên liệu đầu vào của ngành in Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Nguồn nhân lực cũng tồn tại khoảng trống ở cả lao động kỹ thuật và năng lực quản trị sản xuất, tự động hóa, dữ liệu, quản lý chất lượng, môi trường và tiêu chuẩn quốc tế.

Hạ tầng công nghệ tiếp tục là một điểm nghẽn khi doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời yêu cầu chuyển đổi số và các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi chi phí đầu tư hạ tầng số lớn và đội ngũ am hiểu dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp còn chậm trong chuyển đổi số và mở rộng xuất khẩu do thiếu hạ tầng công nghệ, kinh nghiệm và các chứng chỉ quốc tế.

Những hạn chế trên đang tạo ra khoảng trống ngay trong thị trường nội địa. Ông Ngô Anh Tuấn dẫn chứng riêng ngành may mặc Việt Nam nhập khẩu khoảng 5,5 tỷ USD mỗi năm cho phụ kiện, nhãn hàng và bao bì, trong đó hơn một nửa là nhập khẩu trực tiếp.

Khoảng trống này mở ra cơ hội để doanh nghiệp in nâng vai trò trong chuỗi sản xuất, từ nhận đơn hàng gia công sang cung cấp sản phẩm và dịch vụ đáp ứng trực tiếp yêu cầu của các nhà sản xuất.

Giải pháp nâng cao giá trị

Để thu hẹp khoảng trống cung ứng, doanh nghiệp in cần nâng cấp năng lực thay vì chỉ mở rộng công suất gia công. Bà Lâm Thị Xuân Hương nhấn mạnh cơ hội lớn của doanh nghiệp in TP HCM là trở thành nhà cung ứng được chuẩn hóa cho các chuỗi sản xuất đang hoạt động tại Việt Nam. Khi đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn và quy trình, doanh nghiệp có thể chuyển từ vị thế tìm kiếm từng đơn hàng sang trở thành một mắt xích ổn định trong chuỗi cung ứng.

Sự thay đổi này bắt đầu từ cách doanh nghiệp tham gia vào đơn hàng. Thay vì chỉ tiếp nhận yêu cầu và thực hiện sản xuất, doanh nghiệp có thể tham gia sớm hơn ở các khâu tư vấn vật liệu, phát triển sản phẩm, quản lý màu, kiểm soát chất lượng, đóng gói và logistics.

Cùng với đó, tiêu chuẩn trở thành điều kiện để doanh nghiệp nâng năng lực cung ứng. Nhiều doanh nghiệp in Việt Nam đang đầu tư các tiêu chuẩn quản trị chất lượng quốc tế như ISO 12647, GMI và G7 để đáp ứng yêu cầu của khách hàng nước ngoài, từng bước nâng năng lực cung ứng theo chuẩn của thị trường xuất khẩu.

Bà Lâm Thị Xuân Hương cho biết Sở Văn hóa và Thể thao TP HCM định hướng phát triển ngành in theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hỗ trợ in xanh, chuyển đổi xanh, tự động hóa và xuất khẩu. Một trong những định hướng là xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển kỹ thuật in và bao bì cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các dịch vụ về đổi mới công nghệ, quản lý màu, kiểm tra đo lường, chuyển đổi số, sản xuất xanh và tư vấn tiêu chuẩn.

Ở cấp độ ngành, Hội In TP HCM hỗ trợ doanh nghiệp chuyển từ tư duy mua công nghệ sang chủ động phát triển và cung ứng sản phẩm, phối hợp đào tạo khung năng lực số và khung năng lực thợ in.

Với doanh nghiệp quy mô nhỏ, việc tham gia chuỗi cũng có thể bắt đầu từ những mắt xích phù hợp với năng lực hiện có. Bà Nguyễn Mai Minh Thư, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bao bì Minh Thư, đề xuất doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có các chứng chỉ quốc tế khắt khe vẫn có thể tham gia chuỗi xuất khẩu thông qua gia công lại (outsourcing) cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn hơn hoặc tập trung vào những thị trường ngách.

Từ gia công, doanh nghiệp in có thể từng bước nâng năng lực, đáp ứng tiêu chuẩn và mở rộng phạm vi tham gia vào chuỗi sản xuất. Khi đảm nhận được nhiều khâu hơn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có cơ sở chuyển từ đơn vị gia công thành nhà cung ứng, qua đó nâng vai trò của ngành in trong hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ.

Quân Bảo